Tử Vi Ca

Cách cục · bộ chính tinh

Cách Tử Phủ Vũ Tướng

Tử Phủ Vũ Tướng là bộ bốn chính tinh Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng cùng hội ở ba cung tam hợp Mệnh – Tài – Quan. Áo Bí coi đây là “cách của những người làm lớn”, vì trong bộ có hai đế tinh. (Áo Bí tr.342)

Các sao trong bộ: Tử Vi · Thiên Phủ · Vũ Khúc · Thiên Tướng

Tử Phủ Vũ Tướng là gì

Định nghĩa
Áo Bí chia cách theo các chính tinh ở ba cung Mệnh, Tài, Quan. Ba cung ấy có Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng thì gọi là cách Tử Phủ Vũ Tướng — thí dụ sách đưa là bộ này ở ba cung Dần, Ngọ, Tuất. (Áo Bí tr.341)
Vì sao là cách lớn
Sách giải thích vì sao đây là cách lớn: trong bộ có “sao Tử-vi là dương đế tinh và sao Thiên-phủ là âm đế tinh, 2 sao lớn nhất của môn đẩu số”. (Áo Bí tr.342)
Xếp hạng trong bốn cách
Ở phần luận chung cả bốn cách, Áo Bí xếp bộ này đứng đầu: “Tử-Phủ là cách dễ quý hiển và tôn quý nhất”. (Áo Bí tr.349)
Cung nào nặng nhất
Trong ba cung, cung Mệnh nặng nhất: sách dặn tuy gọi là Tử Phủ nhưng phải xem Mệnh ngồi với sao nào trước, rồi đến Quan Lộc, sau cùng mới đến Tài Bạch. (Áo Bí tr.342)
Hai phái (Nghiệm Lý)
Nghiệm Lý chia mười bốn chính tinh làm hai phái, và xếp bộ này cùng phía với Sát Phá Liêm Tham: “Sát Phá Liêm Tham, Tử Phủ Vũ Tướng đứng chung một phái”. (Nghiệm Lý tr.51)

Hợp bản mệnh nào, đóng ở đâu thì đẹp

Áo Bí không luận bộ sao tách rời — luôn đặt cạnh hành của bản mệnh.

Theo hành bản mệnh
Người mệnh Thổ hợp nhất: Mệnh ngồi với Tử Vi hay Thiên Phủ thì bản mệnh phải là Thổ mới hưởng trọn cách Tử Phủ. Mệnh Kim ngồi với Vũ Khúc cũng hợp nhưng đã kém độ tốt; mệnh Thủy ngồi với Thiên Tướng cũng hợp nhưng kém hẳn người mệnh Thổ. (Áo Bí tr.342)
Tam hợp Dần Ngọ Tuất
Bộ đóng ở ba cung Dần, Ngọ, Tuất thì “sự tốt thật là tột bực”, vì Tử Vi ở Ngọ và Thiên Phủ ở Tuất đều miếu địa; người mệnh Thổ gặp bộ này là hợp cách nhất. (Áo Bí tr.342)
Tam hợp Thân Tý Thìn
Bộ đóng ở ba cung Thân, Tý, Thìn: người mệnh Thổ hợp với Tử Vi, Thiên Phủ ở Thân; người mệnh Kim hợp với Vũ Khúc ở Thìn; còn người mệnh Thủy ngồi ở Tý là tốt nhất của cả cách, vì Thiên Tướng ở Tý miếu địa và tam hợp Thân Tý Thìn thuộc Thủy. (Áo Bí tr.343)
Liêm Trinh đi kèm
Liêm Trinh đi kèm bộ này: khi Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung ở Dần hay Thân thì Liêm Trinh đồng cung với Thiên Tướng ở Ngọ hay Tý. Người mệnh Hỏa có Liêm Tướng ở Ngọ tốt hơn ở Tý, vì Liêm Trinh thuộc Hỏa mà cung Ngọ cũng thuộc Hỏa. (Áo Bí tr.344)

Cần sao nào phò tá, kỵ sao nào

Tả Phụ, Hữu Bật
Cần nhất là Tả Phụ, Hữu Bật — thiếu hai sao này “ví như Ông Vua hay Tổng Thống không có văn thần võ tướng”. Tả Phù nên đồng cung với Tử Vi; không nên để Tử Phủ đồng cung với Hữu Bật. (Áo Bí tr.351)
Câu phú Toàn Thư
Toàn Thư có câu phú cùng ý: “Tử Vi Thiên Phủ toàn y phụ bật chi công” — Tử Vi, Thiên Phủ cần dựa vào Tả Phụ, Hữu Bật mới dễ bề phú quý. (Toàn Thư tr.22)
Hồng Loan, Đào Hoa
Cần Hồng Loan, Đào Hoa ở cung Quan Lộc mới mong phú quý tột bực. Nhưng Hồng Đào không nên ở Mệnh, Thân, vì bản tính là dâm tinh. (Áo Bí tr.351)
Khôi, Việt
Cần Khôi, Việt — hai sao quý nhân. Tử Phủ thiếu Khôi Việt thì “ví như một bậc Nguyên-Thủ thiếu sự tôn kính của quần chúng”. Thiếu một trong ba bộ Tả Hữu, Hồng Đào, Khôi Việt thì công nghiệp và sự quý hiển giảm đi nhiều. (Áo Bí tr.351)
Địa Không, Địa Kiếp
Tối kỵ Địa Không, Địa Kiếp: gặp thì mất hết uy lực, “ví như ông vua bị sa cơ”. (Áo Bí tr.351)
Tuần, Triệt
Không sợ lắm Tuần, Triệt. Riêng Thiên Phủ ở cung Tài Bạch thì sợ Tuần: kho có mà không người giữ cửa, của làm ra hay của cha mẹ để lại đều khó giữ. (Áo Bí tr.351–352)
Tử Phủ đồng cung
Toàn Thư: “Tử Phủ đồng cung vô sát tấu, Giáp nhân hưởng phúc chung thân” — Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung thủ Mệnh, không gặp sát tinh làm rối, người tuổi Giáp hưởng phúc suốt đời. (Toàn Thư tr.22)
Lời chốt
Áo Bí chốt lại một câu: “Tử-Phủ lạc Kiếp Không thành hạn họa”. (Áo Bí tr.354)

Tân Biên xếp bộ này vào đâu

Thượng cách
Mục Thượng cách: “Có chức vị lớn, phú quý hiển hách nhưng phải thật hoàn toàn” — Mệnh Cục tương sinh, âm dương thuận lý, bộ Tử Phủ Vũ Tướng nhập miếu, vượng hay đắc địa, hội Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Long Phượng, Đào Hồng, Khoa Quyền Lộc. (Tân Biên mục 17.1, tr.170)
Phi thường cách
Phi thường cách của sách chính là Mệnh có bộ này, Thân có bộ Sát Phá Liêm Tham: “Mệnh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng hội hợp, tất cả đều nhập miếu, vượng hay đắc địa”, Thân cũng vậy, lại được các sao đắc địa phù tá. (Tân Biên mục 17.4, tr.170)
Trung cách
Ở Trung cách, sách ghi một nghề riêng cho bộ này: “Tử, Phủ, Vũ, Tướng, hội Long, Phượng, Tả, Hữu, Hình, Riêu: làm thợ rất khéo léo”. (Tân Biên mục 17.2, tr.170)

Khi vào vận hạn

Tuổi Giáp, Kỷ
Tuổi Giáp, Kỷ, Mệnh có bộ này, “Hạn gặp Hồng, Xương, Tấu, Kình hội hợp” thì “mọi sự đều hanh thông, tài lộc được tăng tiến”. (Tân Biên mục 2.4.2, tr.188)
Hạn xấu
Ngược lại, Mệnh có bộ này mà “Hạn gặp La, Tử, Tuyệt, Cự, Đồng hội hợp và có nhiều Sát tinh xâm phạm”, sách lấy thí dụ Quan Vân Trường đời Tam Quốc bỏ mình nơi trận mạc. Đọc thành một vận phải hết sức giữ mình và tránh việc mạo hiểm. (Tân Biên mục 2.4.2, tr.188)

Bốn bộ chính tinh

Áo Bí gói cả bốn trong một đoạn luận chung, rồi dặn: cách nào cũng có thể làm nên sự nghiệp lớn, tùy cát tinh phù trì và miếu vượng — tên cách chỉ cho biết tính chất (Áo Bí tr.349).

Tra tiếp: thuật ngữ (tam hợp, miếu vượng đắc hãm) · cách cục giàu · cách cục quý