Tử Vi Ca

Cách cục · bộ chính tinh

Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương

Cơ Nguyệt Đồng Lương là bộ bốn chính tinh Thiên Cơ, Thái Âm (Nguyệt), Thiên Đồng, Thiên Lương cùng hội ở ba cung tam hợp Mệnh – Tài – Quan. Tân Biên gọi bộ này là “Văn đoàn”. (Tân Biên mục 4.2.18, tr.84)

Các sao trong bộ: Thiên Cơ · Thái Âm · Thiên Đồng · Thiên Lương

Cơ Nguyệt Đồng Lương là gì

Định nghĩa
Áo Bí định nghĩa theo ba cung Mệnh, Tài, Quan: ba cung ấy có Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương thì gọi là cách Cơ Nguyệt Đồng Lương. (Áo Bí tr.341)
Hai phái (Nghiệm Lý)
Nghiệm Lý xếp bộ này cùng phái với Cự Nhật, đối lại phái Tử Phủ – Sát Phá: “Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật lập thành một phái”. (Nghiệm Lý tr.51)

Tính cách và đường đời theo sách

Tính cách
Áo Bí: người có cách này không mạo hiểm, cương cường như Sát Phá Tham, mà “ôn lương trung hậu, giữ nhân thủ thường, lo bổn phận, đời sống mực thước, ví như các công chức chuyên nghiệp” — nhưng vẫn phải xét miếu hãm hợp với bản mệnh. (Áo Bí tr.345)
Luận chung bốn cách
Ở phần luận chung bốn cách: “Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách tác lại-nhân mà trọng hậu”. (Áo Bí tr.349)
Hình ảnh của Nghiệm Lý
Nghiệm Lý tả bằng một hình ảnh: “Mặt trắng thơ sinh Cơ Nguyệt Đồng Lương ôn nhu mềm dẻo nhiều khi cũng hoá trang ra Cự Nhật nói năng cứng rắn”. (Nghiệm Lý tr.18)
Phía lý thuyết
Và xếp nhóm này về phía lý thuyết: “Đứng bên Nhật Nguyệt có Đồng Lương Cơ Cự toàn bộ trình bày lý thuyết đạo học”. (Nghiệm Lý tr.45)

Hợp nghề gì — Tân Biên kê hẳn từng nghề

Những dòng dưới đây Tân Biên đặt ở Trung cách — khá giả, có nghề nghiệp chức vị, nhưng không rực rỡ hiển hách.

Thầy thuốc
“Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, hội Tả, Hữu, Quang, Quý, Quan, Phúc: làm thầy thuốc có danh tiếng.” (Tân Biên mục 17.2, tr.170)
Thầy giáo, viết báo
“Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, hội Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Tấu: làm thầy giáo, viết báo.” (Tân Biên mục 17.2, tr.170)
Nhà in, buôn bán
“Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, hội Tả, Hữu, Xương, Khúc: mở nhà in, làm tiểu công nghệ, hay buôn bán khá giả.” (Tân Biên mục 17.2, tr.170)
Công chức nhỏ
“Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, hội Tả, Hữu, Xương, Khúc, Thai, Cáo: làm công chức nhỏ thấp, làm lý trưởng, chánh tổng.” (Tân Biên mục 17.2, tr.170)
Nghề thuốc
Ở mục Tả Hữu, sách nhắc lại nghề thuốc: “Tả, Hữu hội hợp với Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương, Long, Phượng, tất chuyên về nghề thuốc, sau rất khá giả”. (Tân Biên mục 4.2.18, tr.83)
Thượng cách
Còn Thượng cách thì bộ này cũng có mặt: “Có chức vị lớn, phú quý hiển hách nhưng phải thật hoàn toàn” — Mệnh Cục tương sinh, âm dương thuận lý, các sao nhập miếu, vượng hay đắc địa và hội đủ Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Long Phượng, Đào Hồng, Khoa Quyền Lộc. (Tân Biên mục 17.1, tr.170)

Hợp bản mệnh nào, đóng ở đâu

Cơ Âm ở Dần Thân
Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần Thân: Áo Bí xếp ngang Liêm Tham ở Tỵ Hợi là chỗ xấu; ở Dần ít bị khắc chế hơn ở Thân. Người mệnh Mộc hay Thủy mà Mệnh ở Dần gặp Khoa Quyền Lộc thì thành “phản vi kỳ”; không gặp Khoa Quyền Lộc, mệnh lại không đồng hành Mộc hay Thủy, thì cung nào cũng xấu. (Áo Bí tr.346)
Mệnh Mộc, Thủy ở Dần
Người mệnh Mộc có Thiên Cơ ở Dần chỉ được y lộc phong túc, “trung bình cách”; mệnh Thủy có Thái Âm ở Dần cũng trung bình cách. (Áo Bí tr.346)
Thiên Lương, Đồng Âm
Người mệnh Mộc hợp Thiên Lương ở Ngọ hơn ở Tý. Người mệnh Kim, Thủy có Thiên Đồng, Thái Âm ở Ngọ tốt hơn ở Tý. (Áo Bí tr.346)
Cơ Lương đồng cung
Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: người mệnh Mộc hợp ở Thìn hơn ở Tuất; người mệnh Thổ thì ở Tuất tốt hơn ở Thìn; người mệnh Thủy thì ở Thìn tốt hơn ở Tuất. (Áo Bí tr.346)
Toàn Thư khen Dần Thân
Toàn Thư lại khen vị trí Dần Thân cho cả bộ: “Lương đồng Cơ Nguyệt Dần Thân vị nhất sinh lợi nghiệp thông minh” — Cơ Nguyệt Đồng Lương hội tụ thủ Mệnh ở Dần Thân thì suốt đời làm ăn suôn sẻ, sáng suốt. Chỗ này hai sách nhìn khác nhau: Toàn Thư khen chung vị trí, Áo Bí dè dặt riêng với Cơ Âm ở Dần Thân và buộc vào hành bản mệnh. (Toàn Thư tr.37)

Cần sao nào, kỵ sao nào

Tam Hóa, Hỏa Linh
Cách này cần tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc), Ân Quang, Thiên Quý và Long Phượng; “Nhưng tối kỵ Hỏa Linh xâm phá” — Thiên Cơ, Thiên Lương gặp Hỏa Linh thì “vi như cây gặp lửa”. (Áo Bí tr.353)
Tuần, Triệt
Với Tuần, Triệt: Thiên Cơ, Thiên Lương thuộc Mộc nên gặp Triệt Tuần là bị phạm nặng; còn “Thiên-đồng không sợ Triệt Tuần vì thuộc hành Thủy”. (Áo Bí tr.353)
Lục sát tinh
Nghiệm Lý nói bộ này yếu trước lục sát tinh: gặp chúng thì “hầu như hoàn toàn bị chi phối”. (Nghiệm Lý tr.41)
Mệnh Tuần, Thân Triệt
Tân Biên thì chỉ đúng chỗ bộ này cứu được: Mệnh có Tuần, Thân có Triệt, “Cung Mệnh hay cung Thân rất cần phải có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa tốt đẹp hội hợp” — có như thế mới xứng ý toại lòng, “Nhất là khi về già mới có danh giá và được an nhàn”. (Tân Biên mục 4.1.3, tr.41)
Gặp sát tinh ở Quan Lộc
Khi cung Quan Lộc có sát tinh sáng sủa, các bộ Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương dù sáng sủa cũng “công danh trắc trở, chức vị nhỏ thấp, thăng giáng thất thường”. (Tân Biên mục 8.14, tr.126)

Khi vào vận hạn

Tuổi Kỷ
Tuổi Kỷ, Mệnh có bộ này, hạn gặp Sát Phá Liêm Tham hội hợp cùng Tả Hữu thì “công danh sớm phát đạt”. (Tân Biên mục 2.4.2, tr.188)
Tuổi Ất, Tân
Tuổi Ất, Tân, Mệnh có bộ này mà “có Hư, Kình, Tuế, Khách xâm phạm”, hạn cũng gặp những sao ấy, thì lại “hoạnh đạt về võ nghiệp”. (Tân Biên mục 2.4.2, tr.188)

Bốn bộ chính tinh

Áo Bí gói cả bốn trong một đoạn luận chung, rồi dặn: cách nào cũng có thể làm nên sự nghiệp lớn, tùy cát tinh phù trì và miếu vượng — tên cách chỉ cho biết tính chất (Áo Bí tr.349).

Tra tiếp: thuật ngữ (tam hợp, miếu vượng đắc hãm) · cách cục giàu · cách cục quý