Tử Vi Ca

Tra cứu · cách cục

Cách cục tử vi — 187 cách, theo sách

Cách cục là thế sao mà sách đặt riêng một cái tên: Tử Vi ngồi Ngọ là “Cực hướng ly minh”, Thái Dương ngồi Ngọ là “Nhật lệ trung thiên”, Tuần ở Mệnh mà Triệt ở Thân là “Mệnh Tuần Thân Triệt”. Dưới đây là đủ 187 cách Tử Vi Ca nhận trên lá số, chia 13 nhóm. Bấm tên cách để xem điều kiện thành cách, câu nguyên văn của sách và số trang.

Bộ chính tinh và thế đứng chung của Mệnh

Bộ chính tinh xét theo chính tinh thủ Mệnh; Mệnh vô chính diệu thì mượn chính tinh ở cung xung chiếu. Xét lần lượt bốn bộ, khớp bộ nào trước thì nhận bộ ấy; Mệnh có Thái Dương, Thái Âm đồng cung thì không xếp bộ mà luận riêng theo cách Nhật Nguyệt đồng lâm.

  • Cách Tử Phủ Vũ TướngChính tinh thủ Mệnh thuộc bộ Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng, và ít nhất ba sao của bộ ấy hội về Mệnh
  • Cách Sát Phá ThamChính tinh thủ Mệnh là Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Liêm Trinh hay Vũ Khúc, và cả ba sao Sát, Phá…
  • Cách Cơ Nguyệt Đồng LươngChính tinh thủ Mệnh thuộc bộ Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương, và ít nhất ba sao của bộ ấy hội về Mệnh
  • Cách Cự NhậtChính tinh thủ Mệnh là Cự Môn hoặc Thái Dương, và cả hai sao cùng hội về Mệnh
  • Chính tinh cư nhàn cungChính tinh thủ Mệnh đứng đất “nhàn cung” theo bảng của Toàn Thư: Tử Vi ở Tý, Thìn, Hợi
  • Phi thường cáchMệnh và Thân ở hai cung khác nhau

Đọc đủ 6 cách nhóm Bộ chính tinh và thế đứng chung của Mệnh ›

Tử Vi, Thiên Phủ

Đọc đủ 14 cách nhóm Tử Vi, Thiên Phủ ›

Thái Dương, Thái Âm

Cách của hai vầng sáng dựa nhiều vào độ sáng: cùng một thế đứng mà Nhật, Nguyệt sáng hay hãm là hai cách khác nhau.

Đọc đủ 26 cách nhóm Thái Dương, Thái Âm ›

Liêm Trinh, Tham Lang

Đọc đủ 15 cách nhóm Liêm Trinh, Tham Lang ›

Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương, Thiên Đồng

Đọc đủ 9 cách nhóm Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương, Thiên Đồng ›

Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng

Đọc đủ 13 cách nhóm Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng ›

Tứ Hóa và Lộc Tồn

Tứ Hóa an theo hàng Can năm sinh, Lộc Tồn cũng vậy — nên cùng một thế sao, người tuổi này thành cách, người tuổi khác không.

Đọc đủ 24 cách nhóm Tứ Hóa và Lộc Tồn ›

Văn tinh, quý tinh và các phụ tinh

“Giáp” (kề hai bên) là hai sao ở hai cung sát cạnh cung Mệnh, mỗi bên một sao; hai sao dồn về một phía thì không kể là giáp.

Đọc đủ 21 cách nhóm Văn tinh, quý tinh và các phụ tinh ›

Thiên Mã

Đọc đủ 9 cách nhóm Thiên Mã ›

Sát tinh: Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp

Đọc đủ 9 cách nhóm Sát tinh: Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp ›

Tuần Triệt, Mệnh – Thân, Mệnh vô chính diệu

Tuần và Triệt che khí của cung chúng đóng: đè lên sao sáng thì tiếc, đè lên cung trống hay sao hãm lại hóa ra đỡ.

Đọc đủ 7 cách nhóm Tuần Triệt, Mệnh – Thân, Mệnh vô chính diệu ›

Nữ mệnh, nam mệnh theo tuổi

Vài cách sách chỉ dành cho nữ mệnh, hoặc cho nam mệnh của mấy tuổi nhất định — áp sai giới tính là đọc lệch phạm vi.

Đọc đủ 9 cách nhóm Nữ mệnh, nam mệnh theo tuổi ›

Cách theo cung: Tài, Điền, Quan, Phu Thê, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Nô Bộc

Các cách dưới đây đứng ở một cung ngoài Mệnh, nói riêng về việc của cung ấy: tiền bạc, nhà đất, sự nghiệp, vợ chồng, con cái, bệnh tật, cha mẹ, người giúp việc.

Đọc đủ 25 cách nhóm Cách theo cung: Tài, Điền, Quan, Phu Thê, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Nô Bộc ›

Bảng cách cục của Tân Biên (chương 19)

Tân Biên có riêng một chương kê cách cục theo bốn loại: phú cục (giàu), quý cục (sang), bần tiện cục (nghèo hèn) và tạp cục. Phú cục và quý cục đã có trang riêng — phú cách và quý cách, đọc đối chiếu với Toàn Thư. Hai loại sau chép dưới đây, nguyên văn điều kiện của sách.

Bần tiện cục (nghèo hèn) — mục 19.3

Tám cách sách xếp vào hàng nghèo hèn. Sách chỉ kê điều kiện, không giảng thêm.

Sinh Bất phùng Thời
“Liêm thủ Mệnh tại Dần Thân gặp Tuần, Triệt án ngữ” (Tân Biên mục 19.3.1, tr.174)Tử Vi Ca nhận cách này trên lá số — xem mục Sinh bất phùng thời ở nhóm Liêm Trinh, Tham Lang.
Nhất Sinh Cô Bần
“Phá thủ Mệnh tại Dần, Thân gặp nhiều Sát tinh mờ ám xấu xa xâm phạm.” (Tân Biên mục 19.3.2, tr.174)
Tài Dữ Tù Cừu
“Vũ hay Liêm mờ ám xấu xa thủ Mệnh, gặp nhiều Sát tinh xâm phạm.” (Tân Biên mục 19.3.3, tr.174)
Nhật Nguyệt Tàng Hung
“Nhật, Nguyệt mờ ám xấu xa thủ Mệnh, chiếu Mệnh hay giáp Mệnh.” (Tân Biên mục 19.3.4, tr.174)
Quân Tử Tại Dã
“Mệnh có nhiều Sát tinh mờ ám xấu xa hội hợp.” (Tân Biên mục 19.3.5, tr.174)Tử Vi Ca nhận cách này trên lá số — xem mục Quân tử tại dã ở nhóm sát tinh.
Lộc phùng Lưỡng Sát
“Lộc Tồn hay Hóa Lộc thù Mệnh, gặp Không, Kiếp đồng cung.” (Tân Biên mục 19.3.6, tr.174)
Lưỡng Trùng Hoa Cái
“Coi Bần tiện cục 19.3.6. ở trên.” (Tân Biên mục 19.3.7, tr.174)Sách không kê điều kiện riêng, chỉ trỏ về mục 19.3.6.
Mã Lạc Không Vong
“Mã thủ Mệnh gặp Tuần, Triệt án ngữ.” (Tân Biên mục 19.3.8, tr.174)

Tạp cục — mục 19.4

Tám cách không nằm ở thế sao của Mệnh mà ở nhịp vận hạn: Mệnh tốt hay xấu so với hạn tốt hay xấu.

Cẩm Thượng Thiêm Hoa
“Cung Mệnh, Thân sáng sủa tốt đẹp, vận hạn lại rực rỡ, nên ví như gấm thêu hoa.” (Tân Biên mục 19.4.1, tr.174)
Phong Vân Tế Hội
“Cung Mệnh, Thân mờ ám xấu xa, nhưng vận hạn lại rất tốt đẹp nên ví như rồng mây gặp hội.” (Tân Biên mục 19.4.2, tr.174)
Khô Mộc phùng Xuân
“Cung Mệnh, Thân xấu xa mờ ám, nhưng vận hạn lại tốt đẹp, nên ví như cây khô gặp mùa xuân, tuy vậy, không được toàn mỹ như Phong Vân Tế Hội.” (Tân Biên mục 19.4.3, tr.174)
Y Cẩm Hoàn Hương
“Lúc ít tuổi vất vả lật đật vì gặp hạn xấu xa, nhưng về già lại an nhàn khá giả vì gặp hạn tốt đẹp, vậy cho nên thường ví như mặc áo gấm về làng.” (Tân Biên mục 19.4.4, tr.174)
Thủy Thượng Giá Tinh
“Hạn một năm tốt rồi lại một năm xấu, không đều đặn, nên ví như bóng sao chập chờn trên mặt nước.” (Tân Biên mục 19.4.5, tr.174)
Cát Hung Tương Bán
“Cũng như trên, nhưng đôi khi cứ nửa năm hành thông rồi lại nửa năm bế tắc.” (Tân Biên mục 19.4.6, tr.174)
Bộ Số Vô Ý
“Vận hạn trước sau, xấu tốt không rõ rệt, may đi liền với rủi, kéo dài liên miên, nên ví như người ốm đi bộ lâu mà không tìm thấy thầy thuốc.” (Tân Biên mục 19.4.7, tr.174)
Lộc Xung Mã Khổn
“Hạn gặp Sát, Lộc, Mã hội hợp và Tam Không xâm phạm, Lộc, Mã bị nguy khốn nên coi là hạn xấu.” (Tân Biên mục 19.4.8, tr.174)

Tra tiếp: thuật ngữ (tam hợp, xung chiếu, miếu vượng đắc hãm) · bốn bộ chính tinh · Mệnh vô chính diệu