Chuyên đề
Cách cục thông minh, học giỏi, đỗ đạt
Bài này gom các cách về tư chất, đường học và thi cử trong bốn cuốn sách cổ. Khác cách cục giàu và cách cục quý, Tân Biên không có mục riêng cho ngả này — nên đây là bài gom, và mỗi mục đều dẫn rõ nó nằm ở đâu.
Vì sao không có “khoa cục”
Vân Đằng Thái Thứ Lang chia chương Phân cục làm đúng hai mục: 19.1 Phú cục — sáu cách về của cải — và 19.2 Quý cục — hai mươi bảy cách về danh phận. Không có mục thứ ba.
Chuyện học hành nằm rải ba chỗ: chương 3 khi sách tả đặc tính từng sao, chương 4 trong các câu phú về Mệnh – Thân, và chương 3.2 khi bàn sao nhập hạn. Cộng thêm mục quý cách của Toàn Thư, phần văn tinh của Áo Bí, và một luận đề riêng của Nghiệm Lý.
Người xưa không tách “học giỏi” thành một ngả riêng vì với họ, học là đường vào chữ quý — thi đỗ để làm quan. Nên phần lớn các cách dưới đây cũng là quý cách, chỉ khác chỗ nhấn.
Chín bộ sao làm nền
Trước khi nói cách cục, phải biết sách xếp sao nào vào việc học. Bốn sao đầu là gốc — Tân Biên gọi chung là bộ Văn tinh; năm bộ sau là sao bồi.
| Văn Xương – Văn Khúc | Chủ văn chương, mỹ thuật, khoa giáp. Đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi. Thông minh, hiếu học. Áo Bí tách vai hai sao rất rõ, chỗ ba cuốn kia gộp làm một: Văn Xương chủ khoa giáp — tức thi cử; Văn Khúc chủ đàn nhạc, nghệ thuật, ca hát (tr.401). Cùng một bộ mà không cùng một việc. Tân Biên mục 3.17 tr.30 |
|---|---|
| Thiên Khôi – Thiên Việt | Chủ khoa giáp, quyền tước. Còn gọi là Thiên Ất quý nhân. Đây là bộ gặp thầy, gặp người nâng đỡ, khác Xương Khúc là tài tự thân. Áo Bí gọi là đệ nhất tôn vinh quý tinh (tr.402). Tân Biên mục 3.18 tr.30–31 |
| Hóa Khoa | Thông minh, lịch lãm, uyên bác. Sách tôn là thần giám sát thi cử, chấp chưởng văn bài. Gặp Xương, Khúc, Khôi, Việt thì kết hợp thành một bộ Văn tinh. Áo Bí nói thêm một vế quý: Hóa Khoa không sợ ác sát tinh (tr.169). Tân Biên mục 3.25 tr.31–32 |
| Thai Phụ – Phong Cáo | Lợi ích cho việc thi cử, cầu công danh. Chủ bằng sắc. Áo Bí cho một điều kiện cụ thể: Thai Cáo đồng cung với Khôi Xương tại Mệnh, tất thị đăng khoa chiếm đầu vị (tr.435). Tân Biên mục 3.38 tr.33 |
| Quốc Ấn | Lợi ích cho việc thi cử, cầu công danh. Gìn giữ chức vị. Sách ghi ngay vế ngược: gặp Tuần, Triệt án ngữ thì ngăn trở, bế tắc, thất bại, bị bãi miễn chức vị. Tân Biên mục 3.39 tr.33 |
| Lưu niên Văn tinh | Thông minh, chuộng bằng sắc. Lợi ích cho việc học hành thi cử. Sao an theo can, hay bị bỏ quên. Áo Bí: lưu nhị hạn mà gặp thì cầu công danh, thi cử có sự đắc ý (tr.171) — tức đây là sao xem năm thi, không phải xem tư chất. Tân Biên mục 3.43 tr.34 |
| Bác Sỹ | Thông minh, khoan hòa. Lợi ích cho việc học hành thi cử. Tân Biên mục 3.42 tr.34 |
| Long Trì – Phượng Các | Đài các chi tinh, cũng là văn diệu; phò tá bộ Nhật Nguyệt và Cơ Lương rất đắc lực. Áo Bí kê một điều kiện rất chặt và tự rào luôn chỗ dễ đọc nhầm: người tuổi Mão, Dậu có Long Phượng đồng cung ở Sửu, Mùi, gặp thêm Quý, Ân, Khôi, Hồng thì khoa trường nhất cử thành danh. Sách dặn “không nên lầm lẫn sang hai cung Mão Dậu với người tuổi Mão Dậu” — hai sao này không đồng cung được ở Mão hay Dậu. Áo Bí tr.404 |
| Bạch Hổ gặp Tấu Thư | Ví như hổ đội hòm sắt — lợi ích cho việc học hành, thi cử, cầu công danh. Một trong ít chỗ sách lấy sát tinh làm điềm lành cho đường học. Gặp Phi Liêm đồng cung thì gọi là hổ mọc cánh. Tân Biên mục 3.28 tr.32 |
Chữ “chiết quế” và chữ “bảng vàng”
Đọc bốn cuốn sẽ gặp đi gặp lại mấy chữ nhà nho dùng cho việc đỗ đạt. Biết trước thì đọc câu phú đỡ vấp:
| chiết quế | bẻ cành quế — thi đỗ. “Mệnh đa chiết quế” nghĩa là số đỗ cao. |
|---|---|
| đăng khoa | lên bảng — đỗ kỳ thi. “Niên thiếu đăng khoa” là đỗ khi còn trẻ. |
| giáp đệ | đỗ vào hạng đầu. |
| long môn | cửa rồng — cá vượt vũ môn hóa rồng, ví với việc thi đỗ đổi đời. |
| bảng vàng | bảng yết tên người đỗ. “Cao chiếm bảng vàng” là đỗ thứ hạng cao. |
| khoa trường | trường thi. “Khoa trường lận đận” là thi mãi không đỗ. |
Mười bảy cách có tên
Xếp theo họ cho dễ nhớ. Mỗi cách ghi đúng điều kiện của sách, và chỗ nào bốn cuốn vênh nhau thì để riêng ở mục sau.
Xương Khúc thủ Mệnh
Bộ văn tinh tự thân. Sách xếp đây là gốc của chữ “học”, còn đỗ hay không lại là chuyện của bộ khác.
Văn Quế Văn Hoa
Cung Mệnh có Xương, Khúc đắc địa tọa thủ, gặp nhiều sao sáng sủa hội hợp.
Câu phú: Văn Quế Văn Hoa, cửu trùng quý hiển. Sách chú ngay: Văn Quế là tên riêng của Văn Xương, Văn Hoa là tên riêng của Văn Khúc.
Tân Biên mục 4.2.14 tr.79
Đa học đa năng
Cung Mệnh có Xương, Khúc đắc địa tọa thủ.
Câu phú: Văn Xương, Văn Khúc vi nhân đa học đa năng — người thông minh, học rộng, nhiều tài năng. Đây là chỗ Toàn Thư chép khác hẳn, xem mục đối chiếu bên dưới.
Tân Biên mục 4.2.14 tr.79
Xương Khúc giáp Mệnh
Cung Mệnh giáp Xương, giáp Khúc hai bên.
Câu phú: Xương, Khúc giáp Mệnh tối vi kỳ — rất thông minh và được nhiều người kính trọng. Cách giáp, không phải hội.
Tân Biên mục 4.2.14 tr.80
Xương Khúc giáp Trì
Cung Mệnh có Thái Dương sáng tọa thủ, lại giáp Xương, giáp Khúc.
Câu phú: Xương, Khúc giáp Trì, quý nhi thả hiền — vừa quý vừa hiền, hưởng giàu sang trọn đời.
Tân Biên mục 4.2.14 tr.80
Khôi Việt — bộ gặp quý nhân
Không phải tài tự thân mà là người nâng đỡ. Cả bốn cuốn đều tôn là Thiên Ất quý nhân.
Khôi Việt đa chiết quế
Cung Mệnh hoặc Thân có Khôi, Việt tọa thủ.
Câu phú: Khôi, Việt tại Mệnh, Thân, đa chiết quế — đi thi đỗ cao, ví như được bẻ cành quế. Chiết quế là chữ nhà nho dùng cho việc đỗ đạt, gặp lại nhiều lần trong chương này.
Tân Biên mục 4.2.16 tr.82
Khôi Việt vô xung
Mệnh có Khôi, Việt tọa thủ, gặp Xương, Khúc, Lộc Tồn hội hợp mà không bị Hình, Sát xung phá.
Câu phú: Khôi, Việt, Xương, Khúc, Lộc Tồn, Hình, Sát vô xung, đại phú quý. Vế “vô xung” mới là điều kiện thật — có đủ sao mà bị xung phá thì hỏng.
Tân Biên mục 4.2.16 tr.82
Tọa Quý Hướng Quý
Có Thiên Khôi tọa thủ và Thiên Việt chiếu, hoặc ngược lại.
Đây cũng là quý cục thứ 21. Áo Bí thêm hai vế mà Tân Biên không có: chủ văn tài tuyệt vời, xuất chúng (tr.422), và một vế phá — Tọa Quý hướng Quý chẳng phùng Không xứ (tr.237).
Tân Biên mục 19.2.21 tr.173 · Áo Bí tr.374
Hóa Khoa và tam Hóa
Nhóm gặp nhiều nhất trong thực tế, và cũng là nhóm Nghiệm Lý bác gắt nhất — xem mục cuối bài.
Khoa Mệnh Quyền triều
Cung Mệnh có Hóa Khoa tọa thủ, gặp Hóa Quyền chiếu.
Câu phú: Khoa Mệnh Quyền triều, đăng chung giáp đệ — đi thi đỗ cao và có quan chức lớn. Hai bản chép cùng một điều kiện, hiếm thấy.
Tân Biên mục 4.2.23 tr.93 · Toàn Thư tr.152
Hóa Khoa hội đủ văn tinh
Hóa Khoa tọa thủ, gặp Tử, Phủ, Xương, Khúc, Khôi, Việt hội hợp.
Sách đoán: tất đi thi đỗ cao, có quan chức lớn, uy quyền hiển hách. Nhưng chua ngay một vế rào: nếu có nhiều Sát tinh xâm phạm thì cũng phải đoán là bậc… — sát tinh vẫn phá được cách này.
Tân Biên mục 4.2.23 tr.93
Long môn nhất dược
Hóa Khoa thủ Mệnh, hội Xương, Khúc, Khôi, Việt.
Toàn Thư có riêng một bài ca cho Hóa Khoa: Cảnh ngộ Khúc Xương Khôi Việt tú, Long môn nhất dược tính danh dương — thi đỗ cao như cá vượt vũ môn thành rồng bay, hiển đạt chốn triều đường.
Toàn Thư tr.75–76
Khoa Lộc giáp Mệnh
Cung Mệnh giáp Khoa, giáp Lộc.
Câu phú: Khoa, Lộc giáp vi quý cách — người có danh giá.
Tân Biên mục 4.2.23 tr.93
Ba kỳ khảo thí
Hóa Khoa và Hóa Quyền đóng ở Tài Bạch, Thiên Di hay Quan Lộc và tam phương đối chiếu; hoặc Mệnh có Hóa Khoa mà Quyền, Lộc ở tam phương chiếu lại.
Áo Bí đoán rất cụ thể: vượt qua được ba kỳ khảo thi, cao chiếm bảng vàng. Đây là bản kê chặt nhất về vị trí trong cả bốn cuốn — nó đòi văn tinh phải chiếu từ tam phương, không chỉ đóng ở Mệnh.
Áo Bí tr.426
Nhật Nguyệt và chữ “chiết quế”
Hai vầng sáng vốn là sao của danh phận, nhưng ở ba thế dưới đây sách nói thẳng chuyện thi cử.
Nhật Mão Nguyệt Hợi
Cung Mệnh an tại Mùi, Thái Dương ở Mão và Thái Âm ở Hợi cùng hợp chiếu về.
Câu phú: Nhật Mão, Nguyệt Hợi, Mùi cung, Mệnh đa chiết quế — tất đi thi được đỗ cao, ví như được bẻ cành quế.
Tân Biên mục 4.2.5 tr.54–55
Nhật Nguyệt chiếu hư không
Cung Mệnh vô chính diệu, Thái Dương và Thái Âm đều sáng cùng hợp chiếu về.
Câu phú: Nhật Nguyệt nhi chiếu hư không, học nhất nhi thập — học một biết mười. Sách chua thêm: nếu cung Mệnh vô chính diệu lại có Tuần, Triệt án ngữ thì thật là hoàn mỹ.
Tân Biên mục 4.2.5 tr.54
Dương Lương Xương Lộc
Mệnh tại Tý có Thiên Lương tọa thủ, Thái Dương từ Ngọ xung chiếu — hoặc Mệnh tại Ngọ có Thái Dương tọa thủ, Thiên Lương từ Tý xung chiếu; thêm Văn Xương và Lộc Tồn hội hợp.
Câu phú: Thiên Lương, Thái Dương, Xương, Lộc hội, lộ truyền đệ nhất danh — rất thông minh, đi thi rất đỗ cao, lại sớm hiển đạt. Hai vế trong sách thật ra là cùng một thế sao: Thiên Lương chỉ đóng Tý khi Tử Vi ở Dậu, và đúng thế ấy Thái Dương ở Ngọ.
Tân Biên mục 4.2.12 tr.72
Lộc Mã và mấy cách lẻ
Ba cách không thuộc bộ văn tinh nào nhưng sách vẫn nói thẳng chuyện đỗ đạt.
Lộc Mã giao trì
Mệnh an tại Dần, Thân, Tỵ, Hợi có Lộc Tồn và Thiên Mã tọa thủ, tam hợp nhiều cát tinh.
Toàn Thư: Thiên Lộc Thiên Mã kinh nhân giáp đệ — số dễ đỗ đạt, nhưng nếu gặp nhiều sát tinh thì không kể. Áo Bí đoán mạnh hơn: bậc sĩ tử có tài học làm kinh động người đồng khoa mà cao chiếm bảng vàng.
Toàn Thư câu 28 tr.153 · Áo Bí tr.422
Thiên Phủ hội văn tinh
Thiên Phủ gặp Xương, Khúc, Tả, Hữu.
Câu phú: Thiên Phủ, Xương Khúc, Tả Hữu cao đệ ân vinh — đỗ đạt cao.
Toàn Thư tr.152
Đệ nhất văn chương cách
Lộc Tồn cư Tý hoặc Ngọ, xung chiếu có Hóa Lộc và Văn tinh.
Áo Bí gọi thẳng tên: đệ nhất văn chương cách, thông minh thanh hiển. Sách cũng nói Lộc Tồn đồng cung Khoa Quyền thì văn chương khoa giáp hiển vang.
Áo Bí tr.166
Bốn chỗ sách vênh nhau
Đây là phần đáng đọc nhất. Ba chỗ là hai cuốn cãi nhau, còn một chỗ thì một cuốn cãi chính nó — và tự ghi lại chuyện ấy.
Giả Nghị niên thiếu đăng khoa — bốn bản, bốn điều kiện
Bốn cuốn cùng kể một tích: Giả Nghị đời Hán đỗ rất sớm. Nhưng hỏi nhờ sao nào thì bốn bản trả lời bốn kiểu, và không bản nào trùng bản nào.
| Tân Biên tr.80 | Mệnh sáng sủa, có Xương, Khúc, Khôi, Việt hội chiếu — đủ bốn sao. |
|---|---|
| Toàn Thư, mục Văn Xương | Chỉ cần Văn Xương và Hóa Khoa củng chiếu. |
| Toàn Thư, cốt tủy phú câu 78 | Khôi Việt đối chiếu — không nhắc Xương Khúc. |
| Áo Bí tr.427 | Mệnh có cát tinh tọa thủ, còn Xương Khúc và Hóa Khoa triều củng từ ba cung Thiên Di, Quan Lộc, Tài Bạch. |
Bản Tân Biên là bản chặt nhất — đòi đủ bốn văn tinh. Bản Áo Bí là bản rõ nhất về vị trí — nó nói văn tinh phải chiếu từ tam phương chứ không chỉ đóng ở Mệnh. Hai bản của Toàn Thư thì mâu thuẫn với nhau ngay trong một cuốn. Tử Vi Ca cài theo Tân Biên, và khi lá số hợp thêm lối Áo Bí thì lời luận nói rõ. Một chỗ nữa phải chốt: bản Tân Biên đòi “cung Mệnh sáng sủa tốt đẹp” mà không kê thế nào là sáng. Lấy chính sách làm thước — cùng bộ bốn văn tinh ấy, thêm Hóa Kỵ tọa thủ là sang hẳn cách văn nhân bất nại ở tr.93 — nên Tử Vi Ca loại lá có Kỵ tọa thủ Mệnh ra khỏi vế đăng khoa.
“Đa học đa năng” — Văn Khúc hay Vũ Khúc
Cùng một câu phú nổi tiếng mà tên sao thứ hai đổi hẳn.
| Tân Biên tr.79 | Văn Xương, Văn Khúc vi nhân đa học đa năng |
|---|---|
| Toàn Thư, mục Văn Xương | Văn Xương, Vũ Khúc vi nhân đa học đa năng |
| Toàn Thư, cốt tủy phú câu 17 | Văn Khúc, Vũ Khúc vi nhân đa học đa năng — lại thành hai sao khác nữa |
Ba dòng, ba cặp sao. Đáng chú ý là chính Toàn Thư tự nhận chỗ này rối — ngay trong mục Văn Xương, người biên soạn viết: “trong câu phú mà bảng liệt kê lại đề một khác… có nhiều điểm mâu thuẫn không thể dùng nguyên tắc nào để xác định lại”. Xương và Khúc vốn là một bộ nên bản Tân Biên hợp lý hơn cả.
Văn Xương đắc địa ở đâu — sách tự vênh với chính mình
Không phải hai cuốn cãi nhau, mà một cuốn cãi chính nó.
| Tân Biên mục 3.17 tr.30 | Đắc địa: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi |
|---|---|
| Toàn Thư, bài ca Văn Xương | Vượng địa Thìn, Tỵ; lợi ở Ngọ; hiềm Mão, Dậu |
| Toàn Thư, câu phú ngay dưới | Miếu địa Tỵ, Dậu, Sửu; lợi địa Thân, Tý, Thìn, Hợi |
| Áo Bí tr.401 | Vượng ở Sửu, Mùi, Thìn, Tuất, Tỵ, Dậu |
Bài ca của Toàn Thư ghi hiềm Mão Dậu, mà câu phú ngay bên dưới lại xếp Dậu vào miếu địa. Người biên soạn thấy và ghi lại chỗ vênh ấy chứ không giấu. Tử Vi Ca dùng bảng của Tân Biên cho toàn bộ phần luận tự động.
Khôi Việt gặp Tuần Triệt — hỏng hay lại là cứu
Chỗ này Áo Bí chia làm hai vế ngược nhau theo độ sáng, còn Tân Biên chỉ chép một vế.
| Tân Biên mục 4.2.16 tr.82 | Khôi Việt gặp Tuần, Triệt án ngữ thì suốt đời chẳng mấy khi xứng ý, công danh trắc trở. |
|---|---|
| Áo Bí tr.163 — vế thứ nhất | Khôi Việt miếu hay vượng địa rất kỵ sao Không: dù học vấn có khá, nhưng khoa trường cũng lận đận, không thể đỗ cao được. |
| Áo Bí tr.403 — vế thứ hai | Khôi Việt hãm ở Sửu, Mùi thì NGƯỢC LẠI cần gặp Triệt Tuần mới học thành: ví như con đường cái quan được yết bảng chiếu chỉ, ví như ông nghè vinh quy. Không gặp Triệt Tuần để khắc chế thì không thể đỗ cao. |
Đây là chỗ Áo Bí tinh hơn hẳn: cùng một sao án ngữ mà sao sáng thì hỏng, sao mờ thì cứu. Đọc một vế mà bỏ vế kia là đoán ngược cho một nửa số lá số.
Có tài mà không đỗ
Phần này bốn cuốn viết kỹ không kém phần khen, và nó hữu ích hơn hẳn khi xem cho con cái: biết chỗ cần rào thì hơn biết chỗ để mừng.
Văn nhân bất nại
Cung Mệnh có Hóa Kỵ tọa thủ, gặp Xương, Khúc, Khôi, Việt hội hợp.
Câu phú: Hóa Kỵ, văn nhân bất nại — là người thông minh, có văn tài, nhưng trắc trở về đường công danh và không thể hiển đạt. Có tài mà không thành danh — cách phá nặng nhất của cả bài. Đáng chú ý là nó dùng đúng bộ bốn văn tinh của cách Giả Nghị đăng khoa: cùng Xương, Khúc, Khôi, Việt hội về, chỉ khác mỗi Hóa Kỵ ngồi ngay cửa Mệnh mà lời đoán lật hẳn từ đỗ đạt rất sớm sang không thể hiển đạt. Chính chỗ đối nhau ấy cho biết chữ “cung Mệnh sáng sủa tốt đẹp” của vế đăng khoa phải hiểu là không có Kỵ tọa thủ.
Tân Biên mục 4.2.23 tr.93
Miêu nhi bất tú
Hóa Khoa bị hung tinh làm hãm.
Câu phú: Miêu nhi bất tú, khoa danh hãm ư hung thần — lúa non không trổ bông. Mầm tốt mà không ra hạt.
Toàn Thư câu 18 tr.152 · Áo Bí tr.421
Quý tinh gặp Thiên Không
Quý tinh và quyền tinh gặp Thiên Không.
Áo Bí: nếu gặp thời khoa trường lận đận, mà công danh trắc trở. Cùng ý với vế Tọa Quý hướng Quý chẳng phùng Không xứ ở tr.237.
Áo Bí tr.170
Khốc Khoa ngộ Thương Sứ
Thiên Khốc và Hóa Khoa gặp Thiên Thương, Thiên Sứ.
Áo Bí ghi gọn bốn chữ: khoa trường lận đận.
Áo Bí, bảng phú đoán
Học giỏi mà thi không đỗ
Cung Quan Lộc gặp Khúc, Xương.
Áo Bí: là người hàn sỹ, học giỏi nhưng thi không đỗ đạt. Đây là chỗ dễ đọc nhầm nhất — Xương Khúc ở Mệnh là tốt, mà ở Quan Lộc lại thành vế này.
Áo Bí, mục cung Quan Lộc
Quốc Ấn gặp Tuần Triệt
Quốc Ấn gặp Tuần, Triệt án ngữ.
Ngăn trở mọi công việc, bế tắc, thất bại, bị bãi miễn chức vị.
Tân Biên mục 3.39 tr.33
Xương Khúc ngộ Kỵ
Nam hay nữ mệnh có Văn Xương gặp Hóa Kỵ.
Áo Bí xếp thẳng vào cách giảm thọ — nặng hơn hẳn vế công danh của Tân Biên.
Áo Bí tr.402
Nghiệm Lý bác lại cả ba cuốn kia
Phái Thiên Lương đọc chuyện này khác hẳn, và nói rất thẳng. Ông dành hẳn một luận đề đặt tên là “Bùa mê thuốc lú Khoa Quyền Lộc”, mở đầu bằng đúng cái mơ ước mà bài này đang bàn:
Người đời có nhiều mơ ước. Lúc còn nhỏ ước mong học giỏi đậu cao, lớn lên mộng tưởng quyền cao chức lớn, lắm bạc nhiều tiền — là ba chữ Khoa Quyền Lộc với cuộc thế nhân sinh.
Nghiệm Lý, luận đề Khoa Quyền Lộc
Rồi ông bác:
Tam Hóa đâu có phải là khả năng tư cách nghị lực của cá nhân nâng cao phẩm giá, chỉ là cái áo rực rỡ lần lượt khoác vào để đóng vai trò nào thôi.
Nghiệm Lý, cùng luận đề
Ông vẫn nhận Hóa Khoa là quý nhất trong ba — “chủ nhân hậu uyên bác, đặc biệt là từ thiện giải trừ tai họa; nữ mệnh đắc Khoa là tối quý”. Nhưng trí thông minh thì ông đặt ở chỗ khác hẳn: trong vòng Thái Tuế. Người ở Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức được “tư chất thiên phú thông minh nhạy cảm hơn đời” — mà kèm ngay một câu cay:
Người được định mệnh đặc phú cho thông minh hơn đời mà cứ thấy cuộc sống dường như bị kẹt cứng, dễ sinh ra mưu thần chước quỷ.
Nghiệm Lý, luận đề vòng Thái Tuế
Và ông đưa ra một lối đọc mà ba cuốn kia không có: Hình Riêu đứng cặp với Xương Khúc là người có tài văn học như thần đồng — tức trí tuệ đến từ hai sao mà các sách khác xếp vào sát tinh và bại tinh. Ông dẫn kèm một lá số thật: người “nổi tiếng học giỏi như thần đồng, thi đậu tú tài hải ngoại đầu tiên ở Việt Nam”, mà lá ấy có ba ác sát tinh thụ chế ngay tại cung Mệnh.
Nói gọn: ba cuốn kia đọc chữ học bằng văn tinh; Nghiệm Lý đọc bằng chỗ đứng trong vòng Thái Tuế và bằng sát tinh đã bị chế ngự. Không bên nào bác được bên nào bằng chứng cứ, nên trang này in cả hai.
Đọc một lá số theo thứ tự nào
Gom bốn cuốn lại thì ra một trình tự năm bước:
- Cung Mệnh — có văn tinh không, sáng hay hãm. Đây là tư chất.
- Tam phương tứ chính — Quan Lộc, Tài Bạch, Thiên Di. Áo Bí tr.426 đòi văn tinh phải triều củng từ ba cung này mới thành cách đỗ đạt.
- Cung Quan Lộc — cửa khoa cử. Nhớ vế ngược của Áo Bí: Xương Khúc đóng ở đây lại thành “học giỏi nhưng thi không đỗ đạt”.
- Tuần, Triệt — thứ quyết định “học giỏi” có thành “đỗ đạt” hay không. Nhớ chia hai vế theo độ sáng như Áo Bí.
- Vận hạn — Tân Biên mục 3.2.22 tr.196: Xương Khúc sáng nhập hạn thì “đi thi tất đỗ cao”; mục 3.2.27 tr.197: Hóa Khoa gặp Khôi Việt Xương Khúc cũng vậy. Áo Bí thêm Lưu niên Văn tinh để xem đúng năm thi.
