Tử Vi Ca

Một trong 14 chính tinh

Sao Thiên Phủ

Thiên Phủ là một trong 14 chính tinh của lá số tử vi, hành Thổ. Kho trời — bao dung, vững vàng, giỏi giữ và bồi đắp, tiền bạc điền sản có nền.

Sao Thiên Phủ là sao gì, hành gì

Sách xếp Thiên Phủ là Nam Đẩu tinh, Âm Thổ, gọi là Tài tinh, Quyền tinh. Chủ tài lộc, uy quyền. (Tân Biên mục 3.7, tr.27)

Thiên Phủ nằm trong bộ: Cách Tử Phủ Vũ Tướng

Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa
Nhân hậu, từ thiện, gia tăng quyền lộc.

Thiên Phủ khi kém thế

kho vơi — vẫn biết giữ nhưng của trong hòm hay bị việc ngoài rút bớt

Đây là chỗ nhiều người đọc tử vi bỏ qua: cùng một sao, đứng đúng đất thì phát huy hết sức, đứng sai đất lại lộ mặt trái. Không có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối.

Thiên Phủ thủ Mệnh

mặt thanh da sáng — kho trời: khoan hồng nhân hậu, nhiều mưu gỡ việc khó, giữ của bền, hưởng phúc thọ

Thiên Phủ miếu, vượng, đắc, hãm ở đâu

Sách chia độ sáng của mỗi sao ở từng cung địa chi thành năm bậc: miếu là sáng nhất, rồi vượng, đắc, bình hòa, và hãm là tối nhất. Đọc lá số mà chỉ nhìn tên sao, bỏ qua độ sáng, là mới đọc được một nửa.

Độ sáng của Thiên Phủ theo 12 cung địa chi
miếuTý · Dần · Ngọ · Thân
vượngThìn · Tuất
đắcTỵ · Mùi · Hợi
bình hòaSửu · Mão · Dậu

Thiên Phủ đóng ở từng cung nói lên điều gì

Mười hai cung là mười hai mặt của một đời người — bản thân, anh em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, bệnh tật, đi xa, bạn bè, công danh, nhà cửa, phúc đức, cha mẹ. Cùng một sao vào mỗi cung lại nói một chuyện khác hẳn.

Thiên Phủ ở cung Mệnh

cốt cách, tính tình và vận chung một đời

sáng kho trời trấn cửa Mệnh — Thiên Phủ là sao giải tai ách: cứu giải bệnh tật tai ương, chế được tính hung của Kình Đà Hỏa Linh, nhưng gặp đủ bộ bốn sao ấy thì uy quyền và tài lộc vẫn giảm; sao này không có hãm địa, ô kém nhất chỉ là bình hòa (tr.27). Gặp Xương Khúc Tả Hữu thì đỗ đạt vinh hiển, gặp Xương Khúc và Lộc Tồn thì rất giàu. Điều kỵ nhất là Tuần Triệt hoặc Thiên Không, Không Kiếp — ví như kho tàng bị phá vỡ: tiêu pha phóng túng, mưu tính viển vông nên của khó tụ (tr.27, 58, 60)

hãm kho gặp gió — của khó tụ, mưu tính dễ viển vông; kỷ luật chi tiêu và giữ giấy tờ là phép giữ (tr.27, 58)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — tuổi Giáp và Đinh được phúc và danh nhưng gặp Tuần Triệt thì công danh trắc trở, riêng tuổi Canh và Nhâm được miễn trừ (tr.59)
  • Sửu — phải nhờ Tử Vi, Thiên Tướng và bộ Khoa Quyền Lộc mới thành cách (tr.27, 58)
  • Dần — đóng Dần thường có Tử Vi đồng cung — thêm Khoa Quyền Lộc cùng Kình Dương và Hữu Bật là cách văn chức kiêm nhiếp việc lớn, mất cách nếu gặp Tuần Triệt hay Không Kiếp; Toàn Thư xếp Mệnh ở Dần hay Thân có Phủ Tướng chầu về là thượng cách "Phủ Tướng triều viên" (tr.59; Toàn Thư tr.31)
  • Mão — đóng Mão Dậu là bình hòa — vẫn biết giữ nhưng phải nhờ dàn phò tá mới bật lên (tr.27)
  • Thìn — đóng Thìn Tuất là đất vượng — kho đầy, quyền lộc gia tăng, hợp việc quản của quản kho (tr.27)
  • Tỵ — đóng Tỵ Hợi là đất đắc — nhân hậu từ thiện, quyền lộc vừa đủ; cách phát dựa nhiều vào dàn phò tá (tr.27, 58)
  • Ngọ — đóng Ngọ — gặp Thiên Tướng hợp chiếu là có quan chức và giàu sang, riêng tuổi Giáp quý đến nhất phẩm (tr.59)
  • Mùi — đóng Mùi là đất đắc — kho vừa tầm, giữ được của; cần Xương Khúc Tả Hữu hoặc Lộc Tồn mới bật thành giàu sang (tr.27, 60)
  • Thân — đóng Thân thường có Tử Vi đồng cung — đế tinh ngồi cùng kho trời; cùng ô Dần là thế đứng của cách Phủ Tướng triều viên (tr.59)
  • Dậu — đóng Mão Dậu là bình hòa — phải nhờ Tử Vi, Thiên Tướng và Khoa Quyền Lộc mới thành cách (tr.27, 58)
  • Tuất — đóng Tuất được sách khen riêng — "Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù, phú quý song toàn"; không bị Sát tinh xâm phạm thì tuổi Giáp và Kỷ hoạnh phát công danh (tr.59)
  • Hợi — đóng Tỵ Hợi là đất đắc — cần dàn phò tá và Khoa Quyền Lộc mới phát trọn (tr.27, 58)

Đọc đủ cung Mệnh →

Thiên Phủ ở cung Phụ Mẫu

cha mẹ, ơn sinh thành và phúc để lại

sáng sách ghi đóng ở đâu cha mẹ cũng có của (mục 5.2.7 tr.97); Áo Bí: cha mẹ song toàn (Áo Bí tr.283)

hãm nhà giàu mà vẫn sớm xa một thân

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — hai thân phú quý song toàn nhưng sớm xa một thân
  • Mão — hai thân phú quý song toàn nhưng sớm xa một thân
  • Tỵ — cha mẹ khá giả, có danh chức
  • Mùi — hai thân phú quý song toàn nhưng sớm xa một thân
  • Dậu — hai thân phú quý song toàn nhưng sớm xa một thân
  • Hợi — cha mẹ khá giả, có danh chức

Đọc đủ cung Phụ Mẫu →

Thiên Phủ ở cung Phúc Đức

phúc phần dòng họ, âm đức, thọ yểu

sáng suốt đời toại ý, họ đông và giàu (mục 6.1.7 tr.103). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: an tĩnh hưởng phúc; cùng Tử Vi an dật, cùng Liêm Trinh "thân an mà tâm bất an", cùng Vũ Khúc tuổi trẻ gian nan về sau mới nhàn nhã; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì lao khổ độ nhật (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ an tĩnh hưởng phúc; cùng Tử Vi thì phúc lộc thọ toàn mỹ, lúc nào cũng nhàn hạ không lo hoạn nạn, tộc thuộc phú quý hiển đạt; cùng Vũ Khúc thì hưởng phúc đức trời cho, giàu có an hưởng cho tới hết đời (Áo Bí tr.296)

hãm phúc chưa dày — lập nghiệp xa, họ giàu mà tán (mục 6.1.7 tr.103). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: an tĩnh hưởng phúc; cùng Tử Vi an dật, cùng Liêm Trinh "thân an mà tâm bất an", cùng Vũ Khúc tuổi trẻ gian nan về sau mới nhàn nhã; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì lao khổ độ nhật (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ an tĩnh hưởng phúc; cùng Tử Vi thì phúc lộc thọ toàn mỹ, lúc nào cũng nhàn hạ không lo hoạn nạn, tộc thuộc phú quý hiển đạt; cùng Vũ Khúc thì hưởng phúc đức trời cho, giàu có an hưởng cho tới hết đời (Áo Bí tr.296)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — Áo Bí: đơn thủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu thì phúc lộc kém dồi dào — tha hương lập nghiệp mới đủ dùng và an thân (Áo Bí tr.296)
  • Mão — Áo Bí: đơn thủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu thì phúc lộc kém dồi dào — tha hương lập nghiệp mới đủ dùng và an thân (Áo Bí tr.296)
  • Mùi — Áo Bí: đơn thủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu thì phúc lộc kém dồi dào — tha hương lập nghiệp mới đủ dùng và an thân (Áo Bí tr.296)
  • Dậu — Áo Bí: đơn thủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu thì phúc lộc kém dồi dào — tha hương lập nghiệp mới đủ dùng và an thân (Áo Bí tr.296)
  • Hợi — Áo Bí: đơn thủ ở Hợi thì phúc thọ song toàn, họ hàng làm ăn cát vượng, đông người mà cũng nhiều người tài (Áo Bí tr.296)

Đọc đủ cung Phúc Đức →

Thiên Phủ ở cung Thiên Di

đường ra ngoài, xuất hành, đối nhân xử thế nơi đất khách

sáng xa nhà lợi và yên hơn ở nhà, quý nhân đỡ (mục 10.7 tr.134). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại có quý nhân phù trợ; cùng Tử Vi thì phát phúc; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì giữa lúc thiên hạ hoang mang mà mình hoạt động lại dễ phát tài, thường là tay cự thương (Toàn Thư tr.77)

hãm ra ngoài vẫn êm, chỉ kém rực rỡ (mục 10.7 tr.134). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại có quý nhân phù trợ; cùng Tử Vi thì phát phúc; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì giữa lúc thiên hạ hoang mang mà mình hoạt động lại dễ phát tài, thường là tay cự thương (Toàn Thư tr.77)

Đọc đủ cung Thiên Di →

Thiên Phủ ở cung Tật Ách

sức khỏe, bệnh tật và tai ương

sáng kho phúc trấn bệnh — ít tai ách, mà vướng tai ách tất có người cứu ngay (Áo Bí tr.257); chỗ duy nhất Toàn Thư dặn phòng ở sao này là gặp Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì phong thấp (Toàn Thư tr.90)

hãm vẫn là sao lành ở cung bệnh

Đọc đủ cung Tật Ách →

Thiên Phủ ở cung Tài Bạch

tiền bạc, cách kiếm và cách giữ của

sáng đúng kho tiền — rất giàu, giữ bền, hợp nghề giữ két (mục 12.7 tr.145). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: no ấm; cùng Tử Vi thì có của ăn của để; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc, thêm Quyền Lộc, là phú ông; thấy Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì thành bại vô thường (Toàn Thư tr.81)

hãm vẫn giàu, chỉ kém rực rỡ (mục 12.7 tr.145). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: no ấm; cùng Tử Vi thì có của ăn của để; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc, thêm Quyền Lộc, là phú ông; thấy Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì thành bại vô thường (Toàn Thư tr.81)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — đóng Sửu Mão Dậu giàu nhưng kém rực rỡ
  • Mão — đóng Sửu Mão Dậu giàu nhưng kém rực rỡ
  • Dậu — đóng Sửu Mão Dậu giàu nhưng kém rực rỡ

Đọc đủ cung Tài Bạch →

Thiên Phủ ở cung Điền Trạch

nhà đất, sản nghiệp, chỗ an cư

sáng thừa hưởng khá, càng về sau càng thịnh (mục 7.7 tr.116). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: nhiều đất cát vườn ruộng; cùng Tử Vi càng hay; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì biết bảo vệ gia nghiệp (Toàn Thư tr.89). Áo Bí thêm: ruộng vườn xum xuê, khuếch đại được nghiệp tổ truyền tới cực thịnh; kiến Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì chẳng có được bao nhiêu, hoặc lúc có lúc mất (Áo Bí tr.278)

hãm có hưởng nhưng nên tự bồi kẻo hao dần (mục 7.7 tr.116). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: nhiều đất cát vườn ruộng; cùng Tử Vi càng hay; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì biết bảo vệ gia nghiệp (Toàn Thư tr.89). Áo Bí thêm: ruộng vườn xum xuê, khuếch đại được nghiệp tổ truyền tới cực thịnh; kiến Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì chẳng có được bao nhiêu, hoặc lúc có lúc mất (Áo Bí tr.278)

Đọc đủ cung Điền Trạch →

Thiên Phủ ở cung Quan Lộc

công danh, sự nghiệp, đường làm ăn chính

sáng công danh bền vững nhưng không hiển hách (mục 8.7 tr.123). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: nhập miếu thì văn vũ đều hay, nếu không bị Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không; cùng Tử Vi thì văn vũ thành danh; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì quyền quý, nhưng gặp Không Kiếp lại chỉ bình thường (Toàn Thư tr.79)

hãm kinh doanh thành hơn quan chức (mục 8.7 tr.123). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: cùng Tử Vi thì văn vũ thành danh; cùng Liêm Trinh hay Vũ Khúc thì quyền quý, nhưng gặp Không Kiếp lại chỉ bình thường (Toàn Thư tr.79)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — kinh doanh thành hơn quan chức
  • Mão — kinh doanh thành hơn quan chức
  • Dậu — kinh doanh thành hơn quan chức

Đọc đủ cung Quan Lộc →

Thiên Phủ ở cung Nô Bộc

bạn bè, người cộng sự, kẻ dưới quyền

sáng tôi tớ tốt, bạn hiền khá giả. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: nhất hô bách nặc; cùng Tử Vi thì người dưới giúp mình; cùng Vũ Khúc thì người dưới đông (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: được việc và tận tâm — "nhất hô bá nặc"; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì hay phản và bỏ đi (Áo Bí tr.267)

hãm người giúp và bạn đều thưa thớt. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: nhất hô bách nặc; cùng Tử Vi thì người dưới giúp mình; cùng Vũ Khúc thì người dưới đông (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: được việc và tận tâm — "nhất hô bá nặc"; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì hay phản và bỏ đi (Áo Bí tr.267)

Đọc đủ cung Nô Bộc →

Thiên Phủ ở cung Tử Tức

con cái, đường sinh dưỡng

sáng đông con, có quý tử (mục 13.3.7 tr.152)

hãm con vừa phải, vẫn khá (mục 13.3.7 tr.152)

Đọc đủ cung Tử Tức →

Thiên Phủ ở cung Phu Thê

vợ chồng, duyên phận lứa đôi

sáng người phối khá giả, hòa thuận đến già (mục 14.7 tr.159). Áo Bí thêm: vợ chồng rất mực sủng ái, tương kính như tân; gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp mà tảo hôn thì bị hình khắc, còn trì hôn lại bách niên giai lão (Áo Bí tr.245)

hãm sung túc nhưng hay cãi vặt (mục 14.7 tr.159). Áo Bí thêm: vợ chồng rất mực sủng ái, tương kính như tân; gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp mà tảo hôn thì bị hình khắc, còn trì hôn lại bách niên giai lão (Áo Bí tr.245)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — chung sống sung túc nhưng hay cãi lộn
  • Mão — chung sống sung túc nhưng hay cãi lộn
  • Tỵ — vợ chồng khá giả, hòa thuận đến lúc đầu bạc
  • Mùi — chung sống sung túc nhưng hay cãi lộn
  • Dậu — chung sống sung túc nhưng hay cãi lộn
  • Hợi — vợ chồng khá giả, hòa thuận đến lúc đầu bạc

Đọc đủ cung Phu Thê →

Thiên Phủ ở cung Huynh Đệ

anh chị em, người ngang vai phải lứa

sáng anh em đông đủ (chương 15 — mục 15.2.7, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang)

hãm đông mà thiếu hòa khí (chương 15 — mục 15.2.7, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang)

Đọc đủ cung Huynh Đệ →

Thiên Phủ gặp các sao khác — và những điều sách dặn thêm

Ngoài độ sáng, sách còn chép 3 điều riêng cho Thiên Phủ. (Tân Biên mục 3.7, tr.27)

  • Cứu giải bệnh tật, tai ương.
  • Chế được tính hung ác của Kình, Đà, Hỏa, Linh. Nhưng nếu gặp đủ bộ bốn sao này, uy quyền và tài lộc bị chiết giảm.
  • Kỵ gặp Tuần, Triệt án ngữ và Thiên Không, Không Kiếp, gặp những sao này ví như kho tàng bị phá vỡ, thường gây ra sự hao tán, bại hoại.

Thiên Phủ vào đại hạn, tiểu hạn

Khi đại hạn mười năm hay tiểu hạn một năm đi tới cung có Thiên Phủ, lời luận đổi theo độ sáng của sao. Hai cuốn chép riêng, nên ghi cả hai.

Theo Tân Biên

Sáng sủa: "thật là kho tài lộc" — công danh hiển đạt, tăng tài tiến hỉ.

  • gặp Khoa Quyền Lộc thì "phải quyết đoán là tài quan song mỹ"
  • nhưng gặp Tam Không (Tuần, Triệt, Thiên Không) thì lật ngược hẳn: "bị phá sản, đau yếu, mưu sự chẳng được toại lòng, hay mắc lừa tiểu nhân" — Thiên Phủ là kho, mà kho gặp Không thì thành kho rỗng

Tân Biên mục 3.2.7 tr.192

Theo Toàn Thư

Sáng sủa: chủ về tài lộc, kẻ sĩ cũng như thứ nhân đều hay — thêm tiền thêm mừng vui, ấm thân xây cao nhà cửa.

Toàn Thư tr.99

Các cách cục có Thiên Phủ

Cách cục là những thế đứng đặc biệt mà sách cổ đặt tên riêng. 6 mục dưới đây đều có Thiên Phủ tham gia.

Phủ Tướng triều viên

Thiên Phủ và Thiên Tướng cùng hội chiếu về Mệnh — Tân Biên chép "Phủ, Tướng đồng lai hội Mệnh cung toàn gia thực lộc" và giải: "Cung Mệnh có Phủ, tướng hội chiếu, nên rất sung túc, thừa cơm ăn áo mặc" (mục 4.2.7 tr.60). Toàn Thư chép "Phủ Tướng triều viên, thiên chung thực lộc", xếp là thượng cách, "lương cao bổng hậu" — nhưng Toàn Thư chỉ tính khi Mệnh an Dần hay Thân (Toàn Thư tr.31)

「Phủ Tướng triều viên, thiên chung thực lộc」

kho và ấn cùng chầu — hưởng lộc nghìn chung

mục 4.2.7 tr.60, 19.2.5 tr.172 · Toàn Thư tr.31

Tử Phủ Kình Dương đồng cung

Tử Vi hay Thiên Phủ thủ Mệnh gặp Kình Dương đồng cung — Tân Biên chép "Tử Phủ, Kình Dương tại cư thương": "Cung Mệnh có Tử hay Phủ, tọa thủ, gặp Kình đồng cung là người buôn bán lớn rất giàu" (mục 4.2.1 tr.43); Toàn Thư cũng có câu "Kinh thương Tử Phủ ngộ Kình Dương" (Toàn Thư tr.151)

「Tử Phủ Kình Dương cư cự thương」

đế tinh đi với sao gươm — số nhà buôn lớn

mục 4.2.1 · Toàn Thư tr.151

Thất Sát ngưỡng đẩu

Thất Sát thủ Mệnh ở Tý Ngọ — Tân Biên chép "Thất Sát Dần, Thân, Tý, Ngọ nhất sinh tước lộc, vinh xương": "tất được hưởng phú quý đến tột bậc", và ghi Sát tọa thủ tại Tý Ngọ gọi là Thất Sát ngưỡng đẩu (mục 4.2.13 tr.74). Phái Thiên Lương đọc khác: cái Thất Sát ngưỡng và triều là ngưỡng Phá Quân cùng đứng trong tam hợp, chứ không phải Tử Vi; và ngưỡng đẩu chỉ là ý nghĩa, vị trí vẫn là xung chiếu Thiên Phủ (Nghiệm Lý tr.99, 155)

mục 4.2.13 tr.74

Phủ lâm Tuất

Thiên Phủ đóng Mệnh ở Tuất, có cát tinh phù trợ — "yêu kim y tử" (lưng đai vàng, mình áo tía): sách giải chức vị lớn

Toàn Thư câu 23 (hữu tinh phù)

Tài cư tài vị

Tử Vi, Thiên Phủ hay Vũ Khúc đóng cung Tài Bạch lại gặp Khoa Quyền — "Tài cư tài vị ngộ giả phú xa": sách giải là số giàu

Toàn Thư câu 92

Phủ trấn Tật Ách

Thiên Phủ đóng cung Tật Ách — "Thiên Phủ lâm giải ách nhi vô bệnh": sách giải ít bệnh tật hiểm nghèo

Toàn Thư câu 52

Đọc thêm: Thiên Phủ trong các cách cục giàu — sáu phú cục của Tân Biên và ba sao chủ tiền bạc.