Cách cục · bộ chính tinh
Cách Cự Nhật
Cự Nhật là cặp Cự Môn và Thái Dương. Tân Biên dành cho cặp này cả một chùm câu phú, mở đầu bằng “Cự, Nhật, đồng cung, quan phong tam đại”. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.67)
Các sao trong bộ: Cự Môn · Thái Dương · Thái Âm
Cự Nhật là gì
- Bốn nhóm (Nghiệm Lý)
- Nghiệm Lý kể bốn nhóm chính tinh trong tam hợp là “Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật”. (Nghiệm Lý tr.29)
- Hai phái
- Và xếp Cự Nhật cùng phái với Cơ Nguyệt Đồng Lương: “Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật lập thành một phái”. (Nghiệm Lý tr.51)
- Thượng cách
- Tân Biên cũng đặt Cự Nhật thành một bộ riêng trong Thượng cách, bên cạnh Tử Phủ Vũ Tướng, Cơ Nguyệt Đồng Lương và Nhật Nguyệt: “Có chức vị lớn, phú quý hiển hách nhưng phải thật hoàn toàn”. (Tân Biên mục 17.1, tr.170)
Tân Biên luận Cự Nhật theo vị trí cung Mệnh
- Cự Nhật đồng cung
- “Cự, Nhật, đồng cung, quan phong tam đại”: cung Mệnh có Cự Nhật đồng cung thì “tất từ đời ông đời cha đã vinh hiển và liên tục ba đời đều có danh giá”. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.67)
- Mệnh ở Dần
- “Cự, Nhật Mệnh cung, Dần vị, thực lộc trì danh”: Mệnh ở Dần có Cự Nhật đồng cung thì “chắc chắn là được hưởng giàu sang trọn vẹn”. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.67)
- Mệnh ở Thân
- Mệnh ở Thân có Cự Nhật đồng cung: “cũng khá giả, danh tài gồm đủ, nhưng không được toàn mỹ” như khi Mệnh ở Dần. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.67–68)
- Xung chiếu
- Mệnh ở Thân, Cự Nhật ở Dần xung chiếu: “tất quý hiển trước, rồi về sau mới phú túc”. Mệnh ở Dần, Cự Nhật ở Thân xung chiếu: “cũng được hưởng giàu sang”. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.68)
- Lộc Tồn, Quyền, Phượng
- Vì sao Dần Thân đẹp: ở đây Thái Dương sáng. Nhưng cặp này kỵ Lộc Tồn, cần Quyền, Phượng: Cự Nhật, Lộc Tồn đồng cung thì “tất suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng”; có thêm Quyền, Phượng hội hợp thì “thật hiển nhiên là được hưởng phú quý song toàn”. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.68)
- Hợp chiếu
- Cung Mệnh tốt đẹp mà có Cự Nhật sáng sủa hợp chiếu thì “tất được hưởng giàu sang trọn đời”. (Tân Biên mục 4.2.10, tr.68)
Toàn Thư, Áo Bí và Nghiệm Lý nói gì
- Toàn Thư
- Toàn Thư chép cùng câu phú: “Cự Nhật mệnh cung Dần vị thực lộc trì danh” — Cự Môn, Thái Dương thủ Mệnh ở Dần, có danh tiếng và nhiều tiền; và “Cự Nhật Thân, lập mệnh Dần trì danh thực lộc”. (Toàn Thư tr.34)
- Áo Bí
- Áo Bí cũng chép: “Cự Nhật đồng cung quan phong tam đại”. (Áo Bí tr.422)
- Bài thơ trong Áo Bí
- Bài thơ trong Áo Bí gắn cặp này ở Dần Thân gặp Quyền, Phượng với nghề nói lý: “Ngành Tư Pháp, Luật-sư cãi giỏi”. (Áo Bí tr.225)
- Nghiệm Lý
- Nghiệm Lý tả Cự Nhật là mặt “nói năng cứng rắn” của phái văn: “Mặt trắng thơ sinh Cơ Nguyệt Đồng Lương ôn nhu mềm dẻo nhiều khi cũng hoá trang ra Cự Nhật nói năng cứng rắn”. (Nghiệm Lý tr.18)
Vì sao Áo Bí kể nhóm thứ tư là Nhật Nguyệt
Chỗ này hai sách chia khác nhau, và Tử Vi Ca ghi cả hai.
- Bốn cách của Áo Bí
- Chương luận các cách của Áo Bí chia bốn cách theo ba cung Mệnh – Tài – Quan: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương và Nhật Nguyệt — không có Cự Nhật. (Áo Bí tr.341)
- Nhật Nguyệt là gì
- “Hai sao Thái-dương và Thái-âm hợp lại thành cách Nhật Nguyệt.” (Áo Bí tr.346)
- Theo hành bản mệnh
- Áo Bí dặn khi luận cách Nhật Nguyệt “không nên yêu kẻ sinh ngày, ghét kẻ sinh đêm”, mà xét theo hành bản mệnh: mệnh Hỏa hợp Thái Dương, ưa tranh đấu; mệnh Thủy hợp Thái Âm, trầm tĩnh hơn. “Nói chung cách Nhật Nguyệt ưa tranh đấu, nhất là chính trị”. (Áo Bí tr.347)
- Đệ nhất cách
- Người mệnh Hỏa có Thái Dương ở Ngọ là đệ nhất cách — cách “Nhật lệ trung thiên, mặt trời ở giữa trời”. Người mệnh Thủy có Thái Âm ở Tý cũng là đệ nhất cách. (Áo Bí tr.347)
- Chiếu hư không, tranh huy
- Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi mà Mệnh ở Mùi vô chính diệu, có Thiên Hư: cách Nhật Nguyệt chiếu hư không, thông minh tuyệt đỉnh, “học một mà biết mười”. Thái Dương, Thái Âm đồng cung ở Sửu Mùi là cách “Nhật Nguyệt tranh huy”; Mệnh ở cùng mà không có cát tinh thì sách nói là hung, “không thể quý hiển được”. (Áo Bí tr.348)
- Luận chung
- “Nhật Nguyệt thì văn chương lại thường phò tá các bậc quân vương”. (Áo Bí tr.349)
- Điều kỵ
- “Nhật Nguyệt tối úy Kình Đà”. (Áo Bí tr.353)
Bốn bộ chính tinh
Áo Bí gói cả bốn trong một đoạn luận chung, rồi dặn: cách nào cũng có thể làm nên sự nghiệp lớn, tùy cát tinh phù trì và miếu vượng — tên cách chỉ cho biết tính chất (Áo Bí tr.349).
- Cách Tử Phủ Vũ Tướng — cách dễ quý hiển và tôn quý nhất
- Cách Sát Phá Tham — uy dũng, thường thiên về võ nghiệp
- Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương — cách tác lại-nhân mà trọng hậu
- Cách Cự Nhật — Cự Môn gặp Thái Dương — và nhóm Nhật Nguyệt của Áo Bí
Tra tiếp: thuật ngữ (tam hợp, miếu vượng đắc hãm) · cách cục giàu · cách cục quý
