Một trong 14 chính tinh
Sao Cự Môn
Cự Môn là một trong 14 chính tinh của lá số tử vi, hành Thủy. Sao khẩu thiệt — ăn nói sắc bén, hợp nghề dùng lời: dạy, cãi, bán, thương thuyết.
Sao Cự Môn là sao gì, hành gì
Sách xếp Cự Môn là Bắc Đẩu tinh, Âm Thủy, gọi là Ám tinh. Chủ ngôn ngữ, thị phi. (Tân Biên mục 3.10, tr.28)
Cự Môn nằm trong bộ: Cách Cự Nhật
- Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa
- Nhân hậu, vui vẻ, ăn nói đanh thép. Chủ uy quyền, tài lộc.
- Hãm địa
- Gian trá, kém sáng suốt, hay nhầm lẫn, thường gây ra thị phi, kiện cáo, tai họa.
Cự Môn khi kém thế
khẩu thiệt thị phi — dễ mang tiếng oan, hay tranh cãi; họa phúc đều từ miệng, nói chậm nửa nhịp là quý
Đây là chỗ nhiều người đọc tử vi bỏ qua: cùng một sao, đứng đúng đất thì phát huy hết sức, đứng sai đất lại lộ mặt trái. Không có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối.
Cự Môn thủ Mệnh
ăn nói đanh thép, xét đoán sắc — sống bằng lời nói: dạy, cãi, bán, thương thuyết
Cự Môn miếu, vượng, đắc, hãm ở đâu
Sách chia độ sáng của mỗi sao ở từng cung địa chi thành năm bậc: miếu là sáng nhất, rồi vượng, đắc, bình hòa, và hãm là tối nhất. Đọc lá số mà chỉ nhìn tên sao, bỏ qua độ sáng, là mới đọc được một nửa.
| miếu | Mão · Dậu |
|---|---|
| vượng | Tý · Dần · Ngọ |
| đắc | Thân · Hợi |
| hãm | Sửu · Thìn · Tỵ · Mùi · Tuất |
Cự Môn đóng ở từng cung nói lên điều gì
Mười hai cung là mười hai mặt của một đời người — bản thân, anh em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, bệnh tật, đi xa, bạn bè, công danh, nhà cửa, phúc đức, cha mẹ. Cùng một sao vào mỗi cung lại nói một chuyện khác hẳn.
Cự Môn ở cung Mệnh
cốt cách, tính tình và vận chung một đời
sáng cửa lớn sáng — sống bằng lời nói và lý lẽ: có Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa, Thái Tuế, Thiên Hình thì hợp tư pháp, ngoại giao, chính trị (tr.66). Đổi lại sao này mang sẵn thị phi: nói chậm nửa nhịp là giữ phúc
hãm cửa lớn khép — nặng khẩu thiệt, dễ mang tiếng và đa nghi; đủ Xương Khúc Khôi Việt Tả Hữu Khoa Quyền Lộc thì vẫn hợp dạy học, hoạt động xã hội, gặp Lộc và Thái Tuế thì sách bảo nên đi buôn (tr.66-67); không sớm ly tổ thì khó bền
Tùy chỗ đứng:
- Tý — phải có Hóa Lộc đồng cung hoặc Tuần Triệt án ngữ thì ngọc mới lộ; gặp Lộc Tồn đồng cung lại thành đa tài mà không gặp thời (tr.66, 69)
- Sửu — đóng Sửu Mùi là đất hãm — riêng tuổi Ất, Bính, Tân lại hóa sáng sủa (tr.67)
- Dần — danh và lộc đều đủ (tr.67)
- Mão — đóng Mão là đất miếu, thế đứng bền — phú quý giữ được lâu dài (tr.68)
- Thìn — đóng Thìn Tuất là đất hãm nặng — đời bươn nhiều hơn hưởng, trừ vài tuổi ứng hợp (tr.66-67)
- Ngọ — đóng Tý Ngọ là "thạch trung ẩn ngọc" — cần Hóa Lộc đồng cung hay Tuần Triệt án ngữ; đủ Khoa Quyền Lộc thì phú quý phúc thọ song toàn (tr.66, 69)
- Mùi — đóng Sửu Mùi là đất hãm — riêng tuổi Ất, Bính, Tân lại hóa sáng sủa (tr.67)
- Thân — đóng Thân cũng khá giả nhưng sách nói rõ không toàn mỹ bằng đóng Dần (tr.68)
- Dậu — đóng Dậu tuy miếu nhưng không trọn như Mão — càng giàu sang càng phải giữ sức khỏe (tr.68)
- Tuất — đóng Thìn Tuất là đất hãm nặng — đời bươn nhiều hơn hưởng, trừ vài tuổi ứng hợp (tr.66-67)
- Hợi — đóng Hợi kỵ gặp Lộc Tồn đồng cung — nhiều cao vọng mà khó thành (tr.69)
Cự Môn ở cung Phụ Mẫu
cha mẹ, ơn sinh thành và phúc để lại
sáng sách ghi đóng ở đâu cha mẹ cũng bất hòa, trong nhà có tranh chấp (mục 5.2.10 tr.98)
hãm cha mẹ dễ đứt gánh hoặc vắng sớm một người khi mình còn nhỏ
Tùy chỗ đứng:
- Tý — cha mẹ giàu sang nhưng không hợp tính với con
- Thìn — sách xếp nặng nhất — cha mẹ bỏ nhau hoặc một còn một mất từ lúc con còn nhỏ
- Ngọ — cha mẹ giàu sang nhưng không hợp tính với con
- Tuất — sách xếp nặng nhất — cha mẹ bỏ nhau hoặc một còn một mất từ lúc con còn nhỏ
- Hợi — cha mẹ giàu sang nhưng không hợp tính với con
Cự Môn ở cung Phúc Đức
phúc phần dòng họ, âm đức, thọ yểu
sáng phúc thọ, hậu vận sướng, họ giàu quý (mục 6.1.10 tr.104). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: lao lực bất an; cùng Thiên Đồng hưởng phúc, cùng Thái Dương vui buồn thất thường, cùng Thiên Cơ lao tâm; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì cuộc đời hay lo (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ lao tâm phí lực mà bất an; cùng Thiên Đồng thì phúc bạc phận mỏng, buồn nhiều vui hiếm, hay tai nạn khẩu thiệt kiện tụng, trong họ cũng hay tranh chấp, phải lìa quê lập nghiệp phương xa mới đủ độ nhật và yên thân; cùng Thái Dương ở miếu vượng địa thì đời sung sướng được cả phúc lẫn thọ, họ hàng giàu có danh giá đời này kế tiếp đời khác — nhưng Nhật Cự ở hãm địa thì trái hẳn, phúc bạc thọ yểu, phải ly hương lìa tổ nghiệp mới giảm bớt được tai kiếp (Áo Bí tr.298)
hãm thị phi bào phúc, họ hay tranh chấp — sớm xa nhà là giải (mục 6.1.10 tr.104). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: lao lực bất an; cùng Thiên Đồng hưởng phúc, cùng Thái Dương vui buồn thất thường, cùng Thiên Cơ lao tâm; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì cuộc đời hay lo (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ lao tâm phí lực mà bất an; cùng Thiên Đồng thì phúc bạc phận mỏng, buồn nhiều vui hiếm, hay tai nạn khẩu thiệt kiện tụng, trong họ cũng hay tranh chấp, phải lìa quê lập nghiệp phương xa mới đủ độ nhật và yên thân; cùng Thái Dương ở miếu vượng địa thì đời sung sướng được cả phúc lẫn thọ, họ hàng giàu có danh giá đời này kế tiếp đời khác — nhưng Nhật Cự ở hãm địa thì trái hẳn, phúc bạc thọ yểu, phải ly hương lìa tổ nghiệp mới giảm bớt được tai kiếp (Áo Bí tr.298)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — Áo Bí: đơn thủ ở Tý Ngọ thì lộc thọ đều toàn, họ hàng gặp sự cát vượng, người giàu có người quý hiển (Áo Bí tr.298)
- Thìn — Áo Bí: đơn thủ ở Thìn Tuất chủ phúc bạc phận mỏng — lao tâm khổ xác mà chẳng mấy lúc an thân, hay mắc tai bay vạ gió và chuyện khẩu thiệt kiện tụng, số phải ly tổ mới bớt tai ương (Áo Bí tr.298)
- Ngọ — Áo Bí: đơn thủ ở Tý Ngọ thì lộc thọ đều toàn, họ hàng gặp sự cát vượng, người giàu có người quý hiển (Áo Bí tr.298)
- Tuất — Áo Bí: đơn thủ ở Thìn Tuất chủ phúc bạc phận mỏng — lao tâm khổ xác mà chẳng mấy lúc an thân, hay mắc tai bay vạ gió và chuyện khẩu thiệt kiện tụng, số phải ly tổ mới bớt tai ương (Áo Bí tr.298)
Cự Môn ở cung Thiên Di
đường ra ngoài, xuất hành, đối nhân xử thế nơi đất khách
sáng lời nói được tin phục nơi đất khách, có lộc (mục 10.10 tr.135). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: ra ngoài lao tâm bất an, luôn gặp chuyện thị phi; thêm Không Kiếp, Dương Đà, Hỏa Linh càng xấu nữa (Toàn Thư tr.77). Áo Bí thêm: xuất ngoại lao tâm khổ xác và chịu thua kém người; hãm địa thì lắm thị phi, thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp càng tệ (Áo Bí tr.262)
hãm ra ngoài thị phi kiện tụng — giữ miệng nơi lạ (mục 10.10 tr.135). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: ra ngoài lao tâm bất an, luôn gặp chuyện thị phi; thêm Không Kiếp, Dương Đà, Hỏa Linh càng xấu nữa (Toàn Thư tr.77). Áo Bí thêm: xuất ngoại lao tâm khổ xác và chịu thua kém người; hãm địa thì lắm thị phi, thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp càng tệ (Áo Bí tr.262)
Cự Môn ở cung Tật Ách
sức khỏe, bệnh tật và tai ương
sáng để ý vùng bụng dưới; thuở bé nhiều mụn nhọt (mục 11.2.8 tr.140); Toàn Thư ghi tuổi trẻ hay bị chứng máu xám (Toàn Thư tr.90)
hãm bệnh ngầm khó nói — khám tổng quát định kỳ; gặp Hóa Kỵ thì lo phần tai và mắt (Áo Bí tr.257)
Cự Môn ở cung Tài Bạch
tiền bạc, cách kiếm và cách giữ của
sáng tay trắng hoạnh phát trong thời cạnh tranh náo động (mục 12.10 tr.146). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: tay trắng làm giàu, nhưng vì hay cao ngạo không tính kỹ mà hoang phá; cùng Thiên Cơ thì làm đủ nghề; cùng Thái Dương thì tiền bạc súc tích; bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì phá nghiệp (Toàn Thư tr.81). Áo Bí thêm: bạch thủ làm nên, nhưng làm ăn phải ở nơi thị tứ đông đúc; sách dặn chớ đặt cao vọng vì vị trí càng cao càng chỉ hoạnh phát nhất thời; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì phá tài đa đoan (Áo Bí tr.252)
hãm tụ tán thất thường, tiền đi kèm thị phi kiện tụng (mục 12.10 tr.146). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: tay trắng làm giàu, nhưng vì hay cao ngạo không tính kỹ mà hoang phá; cùng Thiên Cơ thì làm đủ nghề; cùng Thái Dương thì tiền bạc súc tích; bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì phá nghiệp (Toàn Thư tr.81). Áo Bí thêm: bạch thủ làm nên, nhưng làm ăn phải ở nơi thị tứ đông đúc; sách dặn chớ đặt cao vọng vì vị trí càng cao càng chỉ hoạnh phát nhất thời; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì phá tài đa đoan (Áo Bí tr.252)
Cự Môn ở cung Điền Trạch
nhà đất, sản nghiệp, chỗ an cư
sáng tự lập xa quê rồi nhiều nhà đất (mục 7.9 tr.117). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: miếu vượng thì hoạnh phát; hãm địa sẽ khốn khổ vì chuyện nhà cửa ruộng vườn; cùng Thái Dương hãm địa thì đỡ hại; gặp Tứ Sát thì không đất cắm dùi (Toàn Thư tr.89). Áo Bí thêm: miếu vượng thì tự tạo lập và rất hoạnh phát; hãm địa chẳng những trắng tay mà còn mắc thị phi về việc điền sản (Áo Bí tr.278)
hãm đất đai dễ sinh thị phi kiện cáo — pháp lý đi trước (mục 7.9 tr.117). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: miếu vượng thì hoạnh phát; hãm địa sẽ khốn khổ vì chuyện nhà cửa ruộng vườn; cùng Thái Dương hãm địa thì đỡ hại; gặp Tứ Sát thì không đất cắm dùi (Toàn Thư tr.89). Áo Bí thêm: miếu vượng thì tự tạo lập và rất hoạnh phát; hãm địa chẳng những trắng tay mà còn mắc thị phi về việc điền sản (Áo Bí tr.278)
Cự Môn ở cung Quan Lộc
công danh, sự nghiệp, đường làm ăn chính
sáng tài ăn nói tổ chức — hợp pháp lý, dạy học; phú quý bền (mục 8.10 tr.124). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: nhập miếu thì võ chức quyền quý, còn văn chức lại không lâu bền; cùng Thái Dương thì tấn thoái vô thường; cùng Thiên Cơ ở Mão rất tốt, ở Dậu tuy hay nhưng khó bền (Toàn Thư tr.79)
hãm trắc trở, chức vị nhỏ, hay gặp tai ương (mục 8.10 tr.124). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: hãm địa thì công danh lận đận, thêm Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp càng xấu; cùng Thái Dương thì tấn thoái vô thường; cùng Thiên Cơ ở Mão rất tốt, ở Dậu tuy hay nhưng khó bền (Toàn Thư tr.79). Áo Bí thêm: hãm địa tất gặp chuyện hổ thẹn, thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì phải thoái quan mất chức (Áo Bí tr.273)
Tùy chỗ đứng:
- Thìn — riêng Thìn Tuất: trước nhỏ sau lớn, giỏi luận lý hùng biện nhưng nhiều thị phi gièm pha
- Tuất — riêng Thìn Tuất: trước nhỏ sau lớn, giỏi luận lý hùng biện nhưng nhiều thị phi gièm pha
- Hợi — đóng Hợi sớm đạt nhưng sách dặn chớ trèo quá cao
Cự Môn ở cung Nô Bộc
bạn bè, người cộng sự, kẻ dưới quyền
sáng người dưới đông và đắc lực. Áo Bí: nhập miếu thì người trẻ tuổi không được việc, còn gây tiếng thị phi cho mình, và cũng không gắn bó được bền (Áo Bí tr.268)
hãm kẻ dưới hay điều tiếng với người trên. Áo Bí: nhập miếu thì người trẻ tuổi không được việc, còn gây tiếng thị phi cho mình, và cũng không gắn bó được bền (Áo Bí tr.268)
Cự Môn ở cung Tử Tức
con cái, đường sinh dưỡng
sáng đông con nhưng lớn lên mỗi đứa một phương (chương 13 — mục 13.3.10, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: độc thủ ở Tý hay Ngọ thì trước khó sau mới dễ nuôi — mà nếu ngộ Tuần hay Triệt lại sinh được quý tử; đóng Thìn Tuất thì sinh nhiều dưỡng ít và con hay xung khắc với cha mẹ; cùng Thái Dương ở Dần hay Thân thì con dễ nuôi và về sau hiển đạt, nhưng thêm Dương Đà Hỏa Linh xung chiếu lại rất hiếm con; cùng Thiên Đồng thì con lớn lên sớm phân cư và không hòa mục (Áo Bí tr.290)
hãm con thưa, nhà dễ so bì — công bằng là thuốc (chương 13 — mục 13.3.10, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: độc thủ ở Tý hay Ngọ thì trước khó sau mới dễ nuôi — mà nếu ngộ Tuần hay Triệt lại sinh được quý tử; đóng Thìn Tuất thì sinh nhiều dưỡng ít và con hay xung khắc với cha mẹ; cùng Thái Dương ở Dần hay Thân thì con dễ nuôi và về sau hiển đạt, nhưng thêm Dương Đà Hỏa Linh xung chiếu lại rất hiếm con; cùng Thiên Đồng thì con lớn lên sớm phân cư và không hòa mục (Áo Bí tr.290)
Cự Môn ở cung Phu Thê
vợ chồng, duyên phận lứa đôi
sáng đẹp đôi quý hiển nhưng hay khắc khẩu (mục 14.10 tr.159). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: nên lấy người nhiều tuổi; cùng Thái Dương mà không bị Tứ Sát xung phá thì giai lão; cùng Thiên Cơ thì vợ có nhan sắc; cùng Thiên Đồng thì vợ thông minh lanh lợi; cùng Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì phải qua nhiều đời vợ — sách có câu "Cự Môn cư thê đa bất mãn hoài" (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: gặp Dương Đà, Hỏa Linh thì nhất định phải hai đời vợ, hoặc chủ sinh ly (Áo Bí tr.245)
hãm dễ đứt gánh giữa đường — muộn cưới, bớt lời (mục 14.10 tr.159). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: nên lấy người nhiều tuổi; cùng Thái Dương mà không bị Tứ Sát xung phá thì giai lão; cùng Thiên Cơ thì vợ có nhan sắc; cùng Thiên Đồng thì vợ thông minh lanh lợi; cùng Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì phải qua nhiều đời vợ — sách có câu "Cự Môn cư thê đa bất mãn hoài" (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: gặp Dương Đà, Hỏa Linh thì nhất định phải hai đời vợ, hoặc chủ sinh ly (Áo Bí tr.245)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — đẹp đôi, cả hai quý hiển nhưng hay bất hòa — giữ lời là giữ nhau
- Thìn — sách xếp nặng — dễ hai ba lần lập gia đình; muộn và bền lòng mới gỡ
- Tỵ — sách xếp nặng — dễ hai ba lần lập gia đình; muộn và bền lòng mới gỡ
- Ngọ — đẹp đôi, cả hai quý hiển nhưng hay bất hòa — giữ lời là giữ nhau
- Tuất — sách xếp nặng — dễ hai ba lần lập gia đình; muộn và bền lòng mới gỡ
- Hợi — đẹp đôi, cả hai quý hiển nhưng hay bất hòa — giữ lời là giữ nhau
Cự Môn ở cung Huynh Đệ
anh chị em, người ngang vai phải lứa
sáng anh em ít và hay khắc khẩu (mục 15.2.10 tr.166). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì có anh em mà khiếm hòa; hãm địa thì khác dòng và phải phân cư; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì hình khắc và cô đơn (Áo Bí tr.239)
hãm nên ở riêng sớm — xa thơm gần thường (mục 15.2.10 tr.166). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì có anh em mà khiếm hòa; hãm địa thì khác dòng và phải phân cư; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì hình khắc và cô đơn (Áo Bí tr.239)
Cự Môn gặp các sao khác — và những điều sách dặn thêm
Ngoài độ sáng, sách còn chép 2 điều riêng cho Cự Môn. (Tân Biên mục 3.10, tr.28)
- Vượng địa ví như ngọc quý giấu trong đá. Cần gặp Hóa Lộc đồng cung hay Tuần, Triệt án ngữ để vẻ sáng suốt, tốt đẹp được rõ rệt cũng như đá đã được phá vỡ, ngọc lộ hẳn ra ngoài.
- Hãm địa gặp Khoa chẳng đáng lo ngại về những sự chẳng lành. Khoa giải trừ được tinh hung của Cự hãm địa.
Cự Môn vào đại hạn, tiểu hạn
Khi đại hạn mười năm hay tiểu hạn một năm đi tới cung có Cự Môn, lời luận đổi theo độ sáng của sao. Hai cuốn chép riêng, nên ghi cả hai.
Theo Tân Biên
Sáng sủa: là Quyền tinh — mưu sự toại lòng, hoạnh phát danh tài, "nói được nhiều người nghe theo", tranh chấp cũng thắng lợi.
Mờ ám: hay phiền lòng, mắc khẩu thiệt, thị phi, kiện cáo, hao tán tiền tài.
- nhưng Cự nhập hạn tại Hợi mà gặp Lộc thì sách rào lại: "không nên mưu những việc quá lớn", nuôi cao vọng như "ném kiếm lên sao Đẩu sao Ngưu" thì thất bại đau đớn
- gặp Tang Môn — đau ốm nặng, có tang lớn
- gặp Hóa Kỵ — tai nạn sông nước, khẩu thiệt, thị phi
Tân Biên mục 3.2.10 tr.193
Theo Toàn Thư
Sáng sủa: đắc địa thì thành Quyền tinh, mưu vọng đại thành. Sách còn lật ngược một lẽ thường: tuy có tai vạ khẩu thiệt hoặc bị cách chức lúc đầu "nhưng chính đấy lại là triệu chứng hay, mất chức để lên to hơn".
Mờ ám: cực tai hại — "vạ đâu bay tới, có tang, phá cơ nghiệp".
Toàn Thư tr.100
Các cách cục có Cự Môn
Cách cục là những thế đứng đặc biệt mà sách cổ đặt tên riêng. 4 mục dưới đây đều có Cự Môn tham gia.
Song Hao Mão Dậu
cách chúng thủy triều Đông — Tân Biên: Mệnh an tại Mão, Dậu có Hao tọa thủ "rất rực rỡ tốt đẹp", ví như những dòng nước chảy về phương Đông; câu phú "tối hiểm Hóa Lộc, ái ngộ Cự, Cơ": rất kỵ gặp Lộc và rất cần gặp Cự, Cơ — có Hao, Cự, Cơ đồng cung thì "chắc chắn là được hưởng phú quý đến tột bực, phúc thọ song toàn" (mục 4.2.25 tr.94–95). Toàn Thư giải khác: "dễ kiếm tiền nhưng cũng là người ưa lãng phí, ham bài bạc" (Toàn Thư câu 89). Phái Thiên Lương chép mấy ngoại lệ theo chính tinh đi cùng: Thiên Cơ gặp Hao thì mưu tính thông đạt, Cự Môn rất cần Hao để có chỗ mài mà lộ ngọc, Tham Lang gặp Hao lại là cảnh sung túc của người kín đáo — chỉ Thất Sát, Phá Quân và Tử Phủ gặp Hao mới thật là hao (Nghiệm Lý tr.49)
「Song Hao Mão Dậu, chúng thủy triều Đông」
muôn dòng chảy về Đông — tiền luân chuyển không ngừng, càng xoay càng có
mục 4.2.25 tr.94 · Toàn Thư câu 89
Cự Môn ngộ Kỵ sách xếp vào loại cần cảnh giác
Cự Môn gặp Hóa Kỵ đồng cung ở cung
mục 4.2.10 tr.67 · mục 4.2.23 tr.91
Cự Hỏa Kình Dương sách xếp vào loại cần cảnh giác
Cự Môn thủ Mệnh lại có Hỏa Tinh, Kình Dương hội về — sách xếp vào hạng rất nặng: "Cự, Hỏa, Kình Dương chung thân ải tử" (Toàn Thư tr.156, lời chú: chết vì thắt cổ). Áo Bí tr.431 nói rõ là khi nhị hạn gặp thêm ác sát tinh hội mới ứng; Tân Biên tr.69 cũng đòi gặp thêm nhiều sao xấu xa ác độc. Đây là lời sách cổ chép, đọc để biết những hạn có ác sát phải giữ mình
Toàn Thư câu 59
Ách cung Khốc Hư phong đàm
Thiên Khốc, Cự Môn ở cung Ách, Thiên Hư hội về — phú Toàn Thư và Áo Bí xếp vào bệnh phong đàm ("Ách cung Thiên Khốc, Cự, Hư phong đàm"); Tân Biên nói Thiên Khốc ở Ách: "Phổi yếu, hay ho vặt, thận kém"
Toàn Thư tr.91 · Áo Bí tr.261 · Tân Biên mục 11.2.24 tr.142
