Tử Vi Ca

Một trong 14 chính tinh

Sao Thiên Cơ

Thiên Cơ là một trong 14 chính tinh của lá số tử vi, hành Mộc. Sao mưu trí — đầu óc nhanh, khéo tính toán sắp đặt, hợp việc cần dùng trí và kế hoạch.

Sao Thiên Cơ là sao gì, hành gì

Sách xếp Thiên Cơ là Nam Đẩu tinh, Âm Mộc, gọi là Thiện tinh. Chủ huynh đệ, phúc thọ. (Tân Biên mục 3.6, tr.26–27)

Thiên Cơ nằm trong bộ: Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương

Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa
Sáng suốt, khéo léo, có mưu cơ, nhân hậu, từ thiện.
Hãm địa
Kém sáng suốt, từ thiện.

Thiên Cơ khi kém thế

trí có thừa nhưng hay nghĩ ngợi lan man, tính toán nhiều mà quyết chậm; nên làm việc có thầy có khuôn

Đây là chỗ nhiều người đọc tử vi bỏ qua: cùng một sao, đứng đúng đất thì phát huy hết sức, đứng sai đất lại lộ mặt trái. Không có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối.

Thiên Cơ thủ Mệnh

người cao ráo mặt thanh — mưu trí quyền biến, có óc kinh doanh, nhân hậu

Thiên Cơ miếu, vượng, đắc, hãm ở đâu

Sách chia độ sáng của mỗi sao ở từng cung địa chi thành năm bậc: miếu là sáng nhất, rồi vượng, đắc, bình hòa, và hãm là tối nhất. Đọc lá số mà chỉ nhìn tên sao, bỏ qua độ sáng, là mới đọc được một nửa.

Độ sáng của Thiên Cơ theo 12 cung địa chi
miếuMão · Thìn · Dậu · Tuất
vượngTỵ · Thân
đắcTý · Sửu · Ngọ · Mùi
hãmDần · Hợi

Thiên Cơ đóng ở từng cung nói lên điều gì

Mười hai cung là mười hai mặt của một đời người — bản thân, anh em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, bệnh tật, đi xa, bạn bè, công danh, nhà cửa, phúc đức, cha mẹ. Cùng một sao vào mỗi cung lại nói một chuyện khác hẳn.

Thiên Cơ ở cung Mệnh

cốt cách, tính tình và vận chung một đời

sáng Thiện tinh thủ Mệnh — sao của mưu trí và lòng thiện; sách chỉ nghề rõ nhất ở cung này: miếu vượng đắc gặp Tả, Hữu, Lộc, Thiên Hình, Thiên Y, Quang, Quý thì chuyên về y khoa hay dược khoa; đổi Thiên Y lấy Linh Tinh thì thành người khéo tay, chuyên kỹ nghệ máy móc (tr.56-57). Kỵ Tuần Triệt: phải ly tổ bôn ba, chân tay dễ có tật, phòng tai nạn xe cộ dao súng — lối gỡ sách chỉ là tu dưỡng (tr.57)

hãm Thiện tinh hãm địa — vẫn có óc kinh doanh nhưng thiên về xoay xở; thường buôn bán ngược xuôi hay làm nghề thủ công kiếm ăn, được cái no cơm ấm áo và sống lâu (tr.57)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — đóng Tý Ngọ là đất đắc — gặp nhiều văn tinh thì quý hiển; riêng tuổi Ất, Bính, Đinh đóng đây lập được sự nghiệp lớn và giàu sang trọn đời (tr.57)
  • Sửu — đóng Sửu Mùi là đất đắc theo Tân Biên, nhưng Toàn Thư lại xếp hãm và dặn phòng tai nạn khi gặp Sát Phá Kình Đà Hỏa Linh (tr.26; Toàn Thư tr.24)
  • Dần — đóng Dần là đất hãm, thường có Thái Âm đồng cung — gặp Xương và Riêu thì thơ văn đa tình; nên lấy nghề thật làm neo (tr.58)
  • Mão — đóng Mão Dậu là miếu địa — gặp Song Hao hội hợp là người đa tài, phú quý tột bực; sinh năm Ất, Tân, Kỷ, Bính thì sách khen là toàn mỹ (tr.57)
  • Thìn — nhân từ, phúc thọ song toàn, học rộng, hay bàn chính lược, hợp nghề tham mưu cố vấn; gặp Tuần Triệt hay nhiều Sát thì chỉ tu dưỡng mới yên (tr.57-58)
  • Tỵ — đóng Tỵ Thân là đất vượng — sáng suốt khéo léo, có mưu cơ (tr.26)
  • Ngọ — đóng Tý Ngọ là đất đắc — gặp nhiều văn tinh thì quý hiển, tuổi Ất Bính Đinh càng phát (tr.57)
  • Mùi — đóng Sửu Mùi — Toàn Thư xếp hãm, dặn phòng tai nạn khi gặp Sát Phá Kình Đà Hỏa Linh (Toàn Thư tr.24)
  • Thân — đóng Thân thường có Thái Âm đồng cung — gặp Xương và Thiên Riêu thì văn chương thiên về tình cảm (tr.58)
  • Dậu — đóng Mão Dậu là miếu địa — gặp Song Hao là người đa tài, phú quý tột bực (tr.57)
  • Tuất — học rộng tài cao, bàn chính lược (tr.57-58)
  • Hợi — đóng Hợi là đất hãm — hợp nghề buôn bán ngược xuôi hay thủ công; vẫn đủ ăn và thọ (tr.57)

Đọc đủ cung Mệnh →

Thiên Cơ ở cung Phụ Mẫu

cha mẹ, ơn sinh thành và phúc để lại

sáng cha mẹ khá giả, sống lâu (mục 5.2.6 tr.97)

hãm khó hợp tính cha mẹ — khoảng cách vừa đủ lại giữ được tình; Áo Bí ghi thêm nét con nuôi, con quá phòng (Áo Bí tr.283)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — cha mẹ bình thường và khó hợp tính con — sách khuyên ở xa
  • Sửu — cha mẹ bình thường và khó hợp tính con — sách khuyên ở xa
  • Tỵ — cha mẹ khá giả
  • Ngọ — cha mẹ khá giả
  • Mùi — cha mẹ khá giả
  • Hợi — cha mẹ bình thường và khó hợp tính con — sách khuyên ở xa

Đọc đủ cung Phụ Mẫu →

Thiên Cơ ở cung Phúc Đức

phúc phần dòng họ, âm đức, thọ yểu

sáng phúc thọ, họ khá giả — nhưng trong họ hiếm người (mục 6.1.6 tr.103). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ tiền vận long đong hậu vận thanh nhàn, nên dòng tộc không đông đúc; cùng Cự Môn thì thiếu niên lao lực thiếu may mắn, phải về hậu vận mới toại lòng; cùng Thiên Lương thì hạnh phúc hoàn hảo, được cả giàu sang lẫn sống lâu; cùng Thái Âm chủ khoái lạc, hưởng cả phúc lẫn thọ — Cơ Âm ở Thân thì nữ vượng hơn nam, nhưng ở Dần lại kém may, nữ hay trắc trở về hôn nhân (Áo Bí tr.294)

hãm phúc mỏng, họ hàng ly tán (mục 6.1.6 tr.103). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ tiền vận long đong hậu vận thanh nhàn, nên dòng tộc không đông đúc; cùng Cự Môn thì thiếu niên lao lực thiếu may mắn, phải về hậu vận mới toại lòng; cùng Thiên Lương thì hạnh phúc hoàn hảo, được cả giàu sang lẫn sống lâu; cùng Thái Âm chủ khoái lạc, hưởng cả phúc lẫn thọ — Cơ Âm ở Thân thì nữ vượng hơn nam, nhưng ở Dần lại kém may, nữ hay trắc trở về hôn nhân (Áo Bí tr.294)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — Áo Bí: đóng Tý hay Ngọ chủ cả Phúc lẫn Thọ, tiền của dồi dào hưởng đến hết tuổi già, họ hàng cũng thịnh vượng (Áo Bí tr.294)
  • Ngọ — Áo Bí: đóng Tý hay Ngọ chủ cả Phúc lẫn Thọ, tiền của dồi dào hưởng đến hết tuổi già, họ hàng cũng thịnh vượng (Áo Bí tr.294)

Đọc đủ cung Phúc Đức →

Thiên Cơ ở cung Thiên Di

đường ra ngoài, xuất hành, đối nhân xử thế nơi đất khách

sáng ra ngoài hanh thông hơn ở nhà, buôn bán phát (mục 10.6 tr.134). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại gặp quý nhân, còn ở nhà lại hay mang tiếng thị phi; cùng Cự Môn thì cần phải hoạt động mới hay; cùng Thiên Lương thì xuất ngoại xứng ý; bị Dương Đà, Linh Hỏa thì ra ngoài phải đối đầu nhiều bất trắc (Toàn Thư tr.77). Áo Bí thêm: Áo Bí dè hơn Toàn Thư ở chỗ này — xuất ngoại TUY có gặp quý nhân nhưng kết quả vẫn thua thiệt, còn ở nhà thì luôn gặp thị phi (Áo Bí tr.261)

hãm đất khách không yên thân, bị đố kỵ — đi ngắn ngày thì hơn (mục 10.6 tr.134). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại gặp quý nhân, còn ở nhà lại hay mang tiếng thị phi; cùng Cự Môn thì cần phải hoạt động mới hay; cùng Thiên Lương thì xuất ngoại xứng ý; bị Dương Đà, Linh Hỏa thì ra ngoài phải đối đầu nhiều bất trắc (Toàn Thư tr.77). Áo Bí thêm: Áo Bí dè hơn Toàn Thư ở chỗ này — xuất ngoại TUY có gặp quý nhân nhưng kết quả vẫn thua thiệt, còn ở nhà thì luôn gặp thị phi (Áo Bí tr.261)

Đọc đủ cung Thiên Di →

Thiên Cơ ở cung Tật Ách

sức khỏe, bệnh tật và tai ương

sáng tạng khá; để ý ngoài da, gân cốt (mục 11.2.5 tr.139); Toàn Thư lại chép nét ngược — lúc còn nằm nôi đã lắm tật bệnh, lớn mới yên dần (Toàn Thư tr.90)

hãm ngoài da, tê thấp, gân tay chân — vận động đều; hãm địa Áo Bí còn ghi đầu mặt dễ phá tướng, gặp Kình Đà thì tứ chi vô lực (Áo Bí tr.256); Toàn Thư nói cùng điều ấy bằng chữ khác — đầu và mặt hơi lệch, gặp Kình Đà Hỏa Linh thì tứ chi dễ suội bại hay đau mắt (Toàn Thư tr.90)

Đọc đủ cung Tật Ách →

Thiên Cơ ở cung Tài Bạch

tiền bạc, cách kiếm và cách giữ của

sáng tiền đến từ mưu trí, tính toán — sung túc (mục 12.6 tr.145). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: lao tâm phí lực, phải tính toán mới sinh tài; cùng Cự Môn phải cựa quậy nhiều mới kiếm được; cùng Thiên Lương thường dùng mánh khóe mà sinh ngoại tài; cùng Thái Âm ở hãm địa thì làm ăn dễ thất bại; gặp Dương Đà, Linh Hỏa thì vốn cũng phá sản (Toàn Thư tr.80). Áo Bí thêm: tay trắng làm ra, tới già mới thành tựu; gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì một đời lúc thành lúc bại (Áo Bí tr.251)

hãm kiếm tiền chậm và khó — lấy nghề làm gốc (mục 12.6 tr.145). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: lao tâm phí lực, phải tính toán mới sinh tài; cùng Cự Môn phải cựa quậy nhiều mới kiếm được; cùng Thiên Lương thường dùng mánh khóe mà sinh ngoại tài; cùng Thái Âm ở hãm địa thì làm ăn dễ thất bại; gặp Dương Đà, Linh Hỏa thì vốn cũng phá sản (Toàn Thư tr.80). Áo Bí thêm: tay trắng làm ra, tới già mới thành tựu; gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì một đời lúc thành lúc bại (Áo Bí tr.251)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — chương Tài xếp Tý Sửu vào nhóm kiếm chậm và khó
  • Sửu — chương Tài xếp Tý Sửu vào nhóm kiếm chậm và khó

Đọc đủ cung Tài Bạch →

Thiên Cơ ở cung Điền Trạch

nhà đất, sản nghiệp, chỗ an cư

sáng không nhờ thừa kế nhưng tự gây dựng được nhiều nhà đất (mục 7.6 tr.116). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: tự mình gây dựng nhà cửa, không được hưởng của tiên tổ; cùng Cự Môn tại Mão thì nhiều ruộng vườn nhà cửa, nhưng ở Dậu lại thường không giữ nổi nghiệp ông cha, trước lớn sau nhỏ; cùng Thiên Lương thì đứng tuổi sẽ giàu; cùng Thái Âm thì tốt (Toàn Thư tr.88)

hãm điền sản mức bình thường — tự lo dần (mục 7.6 tr.116). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: tự mình gây dựng nhà cửa, không được hưởng của tiên tổ; cùng Cự Môn tại Mão thì nhiều ruộng vườn nhà cửa, nhưng ở Dậu lại thường không giữ nổi nghiệp ông cha, trước lớn sau nhỏ; cùng Thiên Lương thì đứng tuổi sẽ giàu; cùng Thái Âm thì tốt (Toàn Thư tr.88)

Đọc đủ cung Điền Trạch →

Thiên Cơ ở cung Quan Lộc

công danh, sự nghiệp, đường làm ăn chính

sáng nghề mưu trí, kỹ thuật, máy móc — phú quý song toàn nhưng không hiển hách (mục 8.6 tr.123). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: nhập miếu thì quyền quý, hội Văn Khúc làm lương thần — và sách chép một vế ngược đời: "kiến Dương Đà Hỏa Linh phương nghi", tức ở cung này CÓ thấy sát tinh mới tốt; cùng Thiên Lương là tài kiêm văn võ; cùng Thái Âm thì danh chấn biên di (Toàn Thư tr.78)

hãm công danh muộn — doanh thương, kỹ nghệ lại hợp (mục 8.6 tr.123). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: hãm địa thì thoái quan thất chức; cùng Thiên Lương là tài kiêm văn võ; cùng Thái Âm thì danh chấn biên di (Toàn Thư tr.78). Áo Bí thêm: hãm địa thì Áo Bí chép gọn: chỉ làm "lại nhân" — phận thư lại, giúp việc giấy tờ (Áo Bí tr.272)

Đọc đủ cung Quan Lộc →

Thiên Cơ ở cung Nô Bộc

bạn bè, người cộng sự, kẻ dưới quyền

sáng người dưới tận tâm, bạn có lòng. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: miếu địa thì người dưới làm lợi cho mình, hãm cung thì sinh oán; cùng Thái Âm thì rong chơi lười nhác; bị Kình Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không thì gặp toàn hạng phản phúc (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: nhập miếu thì làm lợi cho mình, hãm địa thì sinh oán; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì còn gây họa cho chủ (Áo Bí tr.267)

hãm người làm kém, bạn thưa. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: miếu địa thì người dưới làm lợi cho mình, hãm cung thì sinh oán; cùng Thái Âm thì rong chơi lười nhác; bị Kình Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không thì gặp toàn hạng phản phúc (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: nhập miếu thì làm lợi cho mình, hãm địa thì sinh oán; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì còn gây họa cho chủ (Áo Bí tr.267)

Đọc đủ cung Nô Bộc →

Thiên Cơ ở cung Tử Tức

con cái, đường sinh dưỡng

sáng chừng hai con, con ngoan biết tính toán (mục 13.3.6 tr.152)

hãm con thưa — muộn sinh mới dễ nuôi (mục 13.3.6 tr.152)

Đọc đủ cung Tử Tức →

Thiên Cơ ở cung Phu Thê

vợ chồng, duyên phận lứa đôi

sáng nên duyên sớm, cả hai có tài — khá giả (mục 14.6 tr.158). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: nam nên lấy vợ ít tuổi, nữ trái lại nên lấy chồng đứng tuổi; bị Dương Đà, Hỏa Linh thì vợ chồng dễ bỏ nhau, nên cưới muộn mới tốt; cùng Thiên Lương thì nên lấy người hơn tuổi; cùng Thái Âm thì có vợ đẹp (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: gặp Dương Đà, Hỏa Linh mà lập gia thất sớm thì bất hòa và phải phân ly; lập muộn lại được vui chữ xướng tùy tới lúc răng long đầu bạc (Áo Bí tr.244)

hãm khó hợp tính — cưới muộn cho chín (mục 14.6 tr.158). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: nam nên lấy vợ ít tuổi, nữ trái lại nên lấy chồng đứng tuổi; bị Dương Đà, Hỏa Linh thì vợ chồng dễ bỏ nhau, nên cưới muộn mới tốt; cùng Thiên Lương thì nên lấy người hơn tuổi; cùng Thái Âm thì có vợ đẹp (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: gặp Dương Đà, Hỏa Linh mà lập gia thất sớm thì bất hòa và phải phân ly; lập muộn lại được vui chữ xướng tùy tới lúc răng long đầu bạc (Áo Bí tr.244)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — nên muộn lập gia đình, hai người khó hợp tính
  • Sửu — nên muộn lập gia đình, hai người khó hợp tính
  • Tỵ — lấy nhau sớm, cả hai cương cường mà vẫn hợp, chồng nên là con trưởng
  • Ngọ — lấy nhau sớm, cả hai cương cường mà vẫn hợp, chồng nên là con trưởng
  • Mùi — lấy nhau sớm, cả hai cương cường mà vẫn hợp, chồng nên là con trưởng
  • Hợi — nên muộn lập gia đình, hai người khó hợp tính

Đọc đủ cung Phu Thê →

Thiên Cơ ở cung Huynh Đệ

anh chị em, người ngang vai phải lứa

sáng anh em vừa phải, biết bảo nhau (chương 15 — mục 15.2.6, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì trong anh em có một người quý hiển; hãm địa thì anh em chống báng nhau, không nhất tâm (Áo Bí tr.238)

hãm anh em thưa, ít gần (chương 15 — mục 15.2.6, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì trong anh em có một người quý hiển; hãm địa thì anh em chống báng nhau, không nhất tâm (Áo Bí tr.238)

Đọc đủ cung Huynh Đệ →

Thiên Cơ vào đại hạn, tiểu hạn

Khi đại hạn mười năm hay tiểu hạn một năm đi tới cung có Thiên Cơ, lời luận đổi theo độ sáng của sao. Hai cuốn chép riêng, nên ghi cả hai.

Theo Tân Biên

Sáng sủa: kinh doanh phát tài, mọi sự hành thông, thường có quyền hành trong tay, lại gặp quý nhân phù trợ.

Mờ ám: "chẳng được yên thân, trong nhà rối ren bất hòa, bên ngoài nhiều sự lôi thôi như thị phi, khẩu thiệt".

  • lại thêm Kình, Đà, Cự hội hợp — chỗ này sách gắn điều kiện: nếu gốc đại hạn mười năm cũng mờ ám thì mới đọc nặng; đại vận đang sáng thì không luận thế
  • gặp Khốc Hư — sách ghi bệnh phổi, ho nhiều

Tân Biên mục 3.2.6 tr.192

Theo Toàn Thư

Sáng sủa: ra vào làm ăn kinh doanh thường được quý nhân giúp đỡ, vinh hiển vô cùng — nhất là khi có Khoa Quyền Lộc.

Mờ ám: cuộc sống bất an, gia sự rối rắm.

Toàn Thư tr.97

Các cách cục có Thiên Cơ

Cách cục là những thế đứng đặc biệt mà sách cổ đặt tên riêng. 2 mục dưới đây đều có Thiên Cơ tham gia.

Song Hao Mão Dậu

cách chúng thủy triều Đông — Tân Biên: Mệnh an tại Mão, Dậu có Hao tọa thủ "rất rực rỡ tốt đẹp", ví như những dòng nước chảy về phương Đông; câu phú "tối hiểm Hóa Lộc, ái ngộ Cự, Cơ": rất kỵ gặp Lộc và rất cần gặp Cự, Cơ — có Hao, Cự, Cơ đồng cung thì "chắc chắn là được hưởng phú quý đến tột bực, phúc thọ song toàn" (mục 4.2.25 tr.94–95). Toàn Thư giải khác: "dễ kiếm tiền nhưng cũng là người ưa lãng phí, ham bài bạc" (Toàn Thư câu 89). Phái Thiên Lương chép mấy ngoại lệ theo chính tinh đi cùng: Thiên Cơ gặp Hao thì mưu tính thông đạt, Cự Môn rất cần Hao để có chỗ mài mà lộ ngọc, Tham Lang gặp Hao lại là cảnh sung túc của người kín đáo — chỉ Thất Sát, Phá Quân và Tử Phủ gặp Hao mới thật là hao (Nghiệm Lý tr.49)

「Song Hao Mão Dậu, chúng thủy triều Đông」

muôn dòng chảy về Đông — tiền luân chuyển không ngừng, càng xoay càng có

mục 4.2.25 tr.94 · Toàn Thư câu 89

Phụ Mẫu hội Thiên Lương

"mẹ cha đồng hưởng thọ trường an vui" — câu phú Toàn Thư và Áo Bí cùng chép. Tân Biên (mục 5.2.12 tr.99) không nói gộp mà chia theo vị trí: đơn thủ tại Tỵ Ngọ (theo bản in), cùng Thiên Đồng, cùng Thiên Cơ, hay cùng Thái Dương tại Mão thì cha mẹ giàu sang, sống lâu; đơn thủ Sửu Mùi hai thân bình thường, trong nhà thiếu hòa khí; đơn thủ Tỵ Hợi thì hai thân bất hòa, sớm lìa bỏ một trong hai thân; cùng Thái Dương tại Dậu thì sớm khắc một trong hai thân

Toàn Thư tr.87 · Áo Bí tr.287 · Tân Biên mục 5.2.12