Tử Vi Ca

Một trong 14 chính tinh

Sao Thiên Lương

Thiên Lương là một trong 14 chính tinh của lá số tử vi, hành Mộc. Sao che chở — nhân hậu, có cốt cách người thầy (thầy thuốc, thầy giáo, người cố vấn), gặp hiểm có cứu.

Sao Thiên Lương là sao gì, hành gì

Sách xếp Thiên Lương là Nam Đẩu tinh, Âm Mộc, gọi là Thọ tinh, Ám tinh. Chủ phụ mẫu, phúc thọ. (Tân Biên mục 3.12, tr.28)

Thiên Lương nằm trong bộ: Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương

Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa
Nhân hậu, khoan hòa, có mưu cơ, biết quyền biến, giải trừ bệnh tật, tai họa.
Hãm địa
Nhân hậu, hay nhầm lẫn, nhân hậu, canh cải, thất thường, ham chơi.

Thiên Lương khi kém thế

lòng tốt bị hiểu lệch, che người rồi vạ lây; làm phúc nên kèm nguyên tắc

Đây là chỗ nhiều người đọc tử vi bỏ qua: cùng một sao, đứng đúng đất thì phát huy hết sức, đứng sai đất lại lộ mặt trái. Không có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối.

Thiên Lương thủ Mệnh

thanh cao khôi ngô — nhân hậu, cốt cách người thầy (thầy thuốc, thầy giáo, cố vấn), gặp hiểm có cứu

Thiên Lương miếu, vượng, đắc, hãm ở đâu

Sách chia độ sáng của mỗi sao ở từng cung địa chi thành năm bậc: miếu là sáng nhất, rồi vượng, đắc, bình hòa, và hãm là tối nhất. Đọc lá số mà chỉ nhìn tên sao, bỏ qua độ sáng, là mới đọc được một nửa.

Độ sáng của Thiên Lương theo 12 cung địa chi
miếuThìn · Ngọ · Tuất
vượngTý · Dần · Mão · Thân
đắcSửu · Mùi
hãmTỵ · Dậu · Hợi

Thiên Lương đóng ở từng cung nói lên điều gì

Mười hai cung là mười hai mặt của một đời người — bản thân, anh em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, bệnh tật, đi xa, bạn bè, công danh, nhà cửa, phúc đức, cha mẹ. Cùng một sao vào mỗi cung lại nói một chuyện khác hẳn.

Thiên Lương ở cung Mệnh

cốt cách, tính tình và vận chung một đời

sáng sao Ấm — sách coi Thiên Lương cai quản việc thọ nên ở thế nào cũng cho tuổi thọ dài; gặp Xương Khúc, Tả Hữu, Thái Tuế thì văn tài lỗi lạc, hợp sư phạm, y dược. Đứng cùng Thiên Đồng sáng là "Ấm Phúc tại Mệnh, bất phạ tai ương" (tr.71, 73). Kỵ nhất Tuần Triệt án ngữ

hãm sao Ấm kém thế — nết rõ nhất là hay đổi chí hướng, đổi nghề, lại thường ly tổ bôn ba; hợp nghề lưu động nhưng cần chọn một việc mà giữ cho đủ lâu. Kỵ Hỏa Linh hội hợp (tr.71-72)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — đóng Tý được Thái Dương xung chiếu cùng Văn Xương, Hóa Lộc là "lộ truyền đệ nhất danh" — thi cử đỗ cao, sớm hiển đạt; gặp Thiên Mã lại thành người ưa xê dịch, hay đổi hướng (tr.72-73)
  • Mão — đóng Mão gặp Thái Dương đồng cung là "Nhật xuất phù tang" — phú quý và an nhàn (tr.72)
  • Thìn — đóng Thìn Tuất (miếu) — nhiều mưu cơ, thích bàn chính lược, hợp việc tham mưu hoạch định (tr.72)
  • Tỵ — đóng Tỵ Hợi — nông nổi, ưa phiêu lưu, tiêu rộng; gặp Song Hao cùng sát tinh thì phòng tai nạn, gặp Thiên Mã càng thêm phiêu đãng (tr.71, 73)
  • Ngọ — đóng Ngọ là "quan tư thanh hiển" — chỗ rực rỡ nhất của Thiên Lương (tr.72)
  • Dậu — đóng Dậu — chỗ hụt duy nhất là thiếu bền chí, làm việc ít suy xét trước nên hay nhầm; lòng nhân hậu vẫn nguyên (tr.71)
  • Tuất — đóng Thìn Tuất (miếu) — nhiều mưu cơ, hợp việc tham mưu hoạch định (tr.72)
  • Hợi — đóng Tỵ Hợi — nông nổi, ưa phiêu lưu, tiêu rộng; gặp Thiên Mã thì hay đổi chí hướng (tr.71, 73)

Đọc đủ cung Mệnh →

Thiên Lương ở cung Phụ Mẫu

cha mẹ, ơn sinh thành và phúc để lại

sáng cha mẹ nhân đức, giàu sang và sống lâu (mục 5.2.12 tr.99)

hãm hai thân bất hòa xa cách, sớm thiếu một người; Áo Bí ghi lối gỡ: bỏ đất tổ, nương nhờ người thì miễn được hình khắc (Áo Bí tr.284)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — đóng Sửu Mùi thì chỉ ở mức bình thường, nhà lại thiếu hòa khí
  • Mùi — đóng Sửu Mùi thì chỉ ở mức bình thường, nhà lại thiếu hòa khí
  • Hợi — hai thân bất hòa hay xa cách, sớm lìa một thân

Đọc đủ cung Phụ Mẫu →

Thiên Lương ở cung Phúc Đức

phúc phần dòng họ, âm đức, thọ yểu

sáng phúc ấm che thân, tránh được tai họa, họ có danh (mục 6.1.12 tr.105). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ thanh nhàn, an lạc; cùng Thiên Đồng thì đời thanh nhàn, giàu có và sống lâu, trong họ nhiều người hiển đạt nhờ âm phù; cùng Thái Âm ở Tý thì phúc thọ song toàn, nên ly hương lập nghiệp cho nhiều may mắn, nhưng ở Ngọ thì chiết giảm mọi mặt, phải ly tổ bôn tẩu mới an thân (Áo Bí tr.298)

hãm thọ giảm, nay đây mai đó, họ sa sút (mục 6.1.12 tr.105). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ thanh nhàn, an lạc; cùng Thiên Đồng thì đời thanh nhàn, giàu có và sống lâu, trong họ nhiều người hiển đạt nhờ âm phù; cùng Thái Âm ở Tý thì phúc thọ song toàn, nên ly hương lập nghiệp cho nhiều may mắn, nhưng ở Ngọ thì chiết giảm mọi mặt, phải ly tổ bôn tẩu mới an thân (Áo Bí tr.298)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — Áo Bí: đơn thủ ở Tý Ngọ được phúc thọ toàn mỹ, không gặp tai ách cũng không phải bận tâm lo lắng, trong họ nhiều người hiển quý làm rạng rỡ tông môn (Áo Bí tr.298)
  • Sửu — Áo Bí: đơn thủ ở Sửu Mùi thì được thọ, tiền của ở mức bình thường đủ dùng, họ hàng cũng bình thường (Áo Bí tr.298)
  • Tỵ — Áo Bí: đơn thủ ở Tỵ Hợi chủ phúc nhẹ phận mỏng, hay gặp tai kiếp, hay đổi chí hướng và nghề nghiệp, số phải sớm ly hương hoặc trôi nổi giang hồ (Áo Bí tr.298)
  • Ngọ — Áo Bí: đơn thủ ở Tý Ngọ được phúc thọ toàn mỹ, không gặp tai ách cũng không phải bận tâm lo lắng, trong họ nhiều người hiển quý làm rạng rỡ tông môn (Áo Bí tr.298)
  • Mùi — Áo Bí: đơn thủ ở Sửu Mùi thì được thọ, tiền của ở mức bình thường đủ dùng, họ hàng cũng bình thường (Áo Bí tr.298)
  • Hợi — Áo Bí: đơn thủ ở Tỵ Hợi chủ phúc nhẹ phận mỏng, hay gặp tai kiếp, hay đổi chí hướng và nghề nghiệp, số phải sớm ly hương hoặc trôi nổi giang hồ (Áo Bí tr.298)

Đọc đủ cung Phúc Đức →

Thiên Lương ở cung Thiên Di

đường ra ngoài, xuất hành, đối nhân xử thế nơi đất khách

sáng đi đâu cũng có người thương, càng xa càng may (mục 10.12 tr.135). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại gần được người quý; cùng Thiên Đồng thì phúc hậu; cùng Thiên Cơ thì thường ra đời bằng khả năng nghệ thuật (Toàn Thư tr.77)

hãm nay đây mai đó — có kỷ luật hành trình thì yên (mục 10.12 tr.135). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại gần được người quý; cùng Thiên Đồng thì phúc hậu; cùng Thiên Cơ thì thường ra đời bằng khả năng nghệ thuật (Toàn Thư tr.77)

Đọc đủ cung Thiên Di →

Thiên Lương ở cung Tật Ách

sức khỏe, bệnh tật và tai ương

sáng sao ấm trấn bệnh — ít tai ách; chỉ khi gặp Hỏa Linh Áo Bí mới xếp nặng (Áo Bí tr.257)

hãm đóng Hợi Tý Sửu chỉ mắc bệnh hàn nhiệt, sách nói không đáng lo ngại (mục 11.2.10 tr.140)

Đọc đủ cung Tật Ách →

Thiên Lương ở cung Tài Bạch

tiền bạc, cách kiếm và cách giữ của

sáng giàu có lớn — cả đời không phải lo sinh kế (mục 12.12 tr.146). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: nhập miếu là thượng đẳng phú quý; cùng Thiên Đồng là bạch thủ sinh tài; cùng Thiên Cơ thì lao tâm khổ tứ mà tiền chẳng được bao nhiêu, lại hay biến đổi; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì chỉ đủ hai tay vầy lỗ miệng (Toàn Thư tr.81). Áo Bí thêm: gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì trước khó sau dễ, nhưng vẫn phải cần kiệm mà độ nhật (Áo Bí tr.252)

hãm kiếm ăn rày đây mai đó, hoang phí — cần người giữ két. Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: hãm địa làm ăn vất vả; cùng Thiên Đồng là bạch thủ sinh tài; cùng Thiên Cơ thì lao tâm khổ tứ mà tiền chẳng được bao nhiêu, lại hay biến đổi; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì chỉ đủ hai tay vầy lỗ miệng (Toàn Thư tr.81). Áo Bí thêm: gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì trước khó sau dễ, nhưng vẫn phải cần kiệm mà độ nhật (Áo Bí tr.252)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — đóng Sửu Mùi mức bình thường
  • Mùi — đóng Sửu Mùi mức bình thường

Đọc đủ cung Tài Bạch →

Thiên Lương ở cung Điền Trạch

nhà đất, sản nghiệp, chỗ an cư

sáng có nền cũ lại mua thêm, không lo chỗ ở (mục 7.11 tr.117). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: nhập miếu thì vượng tổ nghiệp; cùng Thiên Đồng thì ban đầu gian truân về sau tốt; cùng Thiên Cơ thì sẽ có nhà riêng của mình (Toàn Thư tr.89)

hãm nhà đất ít, hay đổi chỗ (mục 7.11 tr.117). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: nhập miếu thì vượng tổ nghiệp; cùng Thiên Đồng thì ban đầu gian truân về sau tốt; cùng Thiên Cơ thì sẽ có nhà riêng của mình (Toàn Thư tr.89)

Đọc đủ cung Điền Trạch →

Thiên Lương ở cung Quan Lộc

công danh, sự nghiệp, đường làm ăn chính

sáng công danh hoạnh đạt, văn chức rực rỡ hơn võ — phú quý tột bực, danh tiếng lừng lẫy (mục 8.12 tr.124). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: cùng Thiên Đồng thì "quyền quý bất tiểu"; cùng Thiên Cơ thì quý hiển; bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì chỉ bình thường (Toàn Thư tr.79)

hãm danh như mây nổi — nghề lưu động hợp hơn (mục 8.12 tr.124). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: cùng Thiên Đồng thì "quyền quý bất tiểu"; cùng Thiên Cơ thì quý hiển; bị Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì chỉ bình thường (Toàn Thư tr.79). Áo Bí thêm: hãm địa thì Áo Bí chép chỉ làm "lại" — chân thư lại (Áo Bí tr.273)

Tùy chỗ đứng:

  • Sửu — đóng Sửu Mùi bình thường — nên y dược, sư phạm; buôn bán cũng phát
  • Ngọ — Toàn Thư: riêng miếu địa ở Ngọ mà hội Tả Hữu, Khôi Việt thì là "văn vũ chi tài" (Toàn Thư tr.79)
  • Mùi — đóng Sửu Mùi bình thường — nên y dược, sư phạm; buôn bán cũng phát

Đọc đủ cung Quan Lộc →

Thiên Lương ở cung Nô Bộc

bạn bè, người cộng sự, kẻ dưới quyền

sáng người trung hậu, hoạn nạn có người đỡ. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: người dưới đông; cùng Thiên Đồng thì họ biết bảo vệ mình; cùng Thiên Cơ thì kém trung thành (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: người dưới đông đảo và làm vượng cho chủ, hãm địa thì vô tích sự (Áo Bí tr.268)

hãm người giúp ít và yếu. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: người dưới đông; cùng Thiên Đồng thì họ biết bảo vệ mình; cùng Thiên Cơ thì kém trung thành (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: người dưới đông đảo và làm vượng cho chủ, hãm địa thì vô tích sự (Áo Bí tr.268)

Đọc đủ cung Nô Bộc →

Thiên Lương ở cung Tử Tức

con cái, đường sinh dưỡng

sáng đông con, có quý tử (mục 13.3.12 tr.153). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: đơn thủ ở Tý hay Ngọ thì sinh được quý tử, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sớm khắc và hiếm muộn; cùng Thiên Cơ mà gặp sát tinh thì sách chép nặng — hoàn toàn vô tự; cùng Thái Dương ở Mão thì con đông và đều thành đạt (Áo Bí tr.291)

hãm con thưa, có đứa ưa bay nhảy (mục 13.3.12 tr.153). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: đơn thủ ở Tý hay Ngọ thì sinh được quý tử, gặp Dương Đà Hỏa Linh Không Kiếp thì sớm khắc và hiếm muộn; cùng Thiên Cơ mà gặp sát tinh thì sách chép nặng — hoàn toàn vô tự; cùng Thái Dương ở Mão thì con đông và đều thành đạt (Áo Bí tr.291)

Đọc đủ cung Tử Tức →

Thiên Lương ở cung Phu Thê

vợ chồng, duyên phận lứa đôi

sáng nên duyên sớm dễ dàng, đều quý hiển (mục 14.12 tr.160). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: cùng Thiên Đồng thì vợ chồng hòa thuận; cùng Thiên Cơ thì đẹp mà hiền; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì lục đục (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: ngộ Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì vợ chồng không được hòa thuận (Áo Bí tr.246)

hãm dễ gặp dễ xa — giữ nếp nhà là giữ nhau (mục 14.12 tr.160). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: cùng Thiên Đồng thì vợ chồng hòa thuận; cùng Thiên Cơ thì đẹp mà hiền; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì lục đục (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: ngộ Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì vợ chồng không được hòa thuận (Áo Bí tr.246)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — lấy nhau sớm và dễ dàng, cả hai đều quý hiển — nên kết duyên với con trưởng
  • Tỵ — dễ gặp nhau lại dễ xa nhau
  • Ngọ — lấy nhau sớm và dễ dàng, cả hai đều quý hiển — nên kết duyên với con trưởng
  • Hợi — dễ gặp nhau lại dễ xa nhau

Đọc đủ cung Phu Thê →

Thiên Lương ở cung Huynh Đệ

anh chị em, người ngang vai phải lứa

sáng anh em thuận hòa, khá giả (mục 15.2.12 tr.166). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì ít mà thuận hòa — sách nói rõ đông hơn lại sinh bất hòa hoặc khắc bào; hãm địa thì khác dòng và phải phân cư (Áo Bí tr.240)

hãm xa nhau từ nhỏ, có người bay nhảy (mục 15.2.12 tr.166). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì ít mà thuận hòa — sách nói rõ đông hơn lại sinh bất hòa hoặc khắc bào; hãm địa thì khác dòng và phải phân cư (Áo Bí tr.240)

Đọc đủ cung Huynh Đệ →

Thiên Lương vào đại hạn, tiểu hạn

Khi đại hạn mười năm hay tiểu hạn một năm đi tới cung có Thiên Lương, lời luận đổi theo độ sáng của sao. Hai cuốn chép riêng, nên ghi cả hai.

Theo Tân Biên

Sáng sủa: giải trừ tai họa — danh tài hưng vượng, "nếu đau ốm cũng chóng qua khỏi, nếu mắc nạn cũng sớm gặp quý nhân đến giải cứu".

Mờ ám: tiền tài hao tán, sức khỏe suy kém.

  • Lương mờ mà nhập hạn tại Tý hay Hợi thì "chắc chắn là phải đi xa hay thay đổi công việc"

Tân Biên mục 3.2.12 tr.194

Theo Toàn Thư

Sáng sủa: vốn là sao che chở — "ví như hoa cúc tới mùa thu sực nức hương thơm": mưu vọng quan chức đều thành, kẻ dân giả cũng đủ lương ăn, sức khỏe dồi dào, già thêm tuổi thọ.

Mờ ám: Thiên Lương hãm thì sức che chở mỏng đi, sách chuyển sang dặn phòng sao đi kèm.

Toàn Thư tr.101

Các cách cục có Thiên Lương

Cách cục là những thế đứng đặc biệt mà sách cổ đặt tên riêng. 4 mục dưới đây đều có Thiên Lương tham gia.

Dương Lương Xương Lộc

câu phú "<i class="trich">Thiên Lương, Thái Dương, Xương, Lộc hội lộ truyền đệ nhất danh</i>".

Tân Biên mục 4.2.12 tr.72

Mệnh Không Thân Kiếp

rất khôn ngoan sắc sảo, nhưng "trong đời vui ít, buồn nhiều, mưu sự thì thành bại thất thường: làm việc gì cũng chẳng được lâu bền". Sách thêm: Mệnh vô Chính diệu lại có Song Hao hội hợp thì tuy ít học cũng lập được công danh, sự nghiệp khá hiển hách; Mệnh hay Thân có Thiên Đồng, Thiên Lương hay Phá Quân tọa thủ thì "thật không sống lâu được"

mục 4.1.3 tr.41

Mã ngộ Thiên Lương sách xếp vào loại cần cảnh giác

Thiên Mã gặp Thiên Lương ở Mệnh — Toàn Thư câu 107 chép "Mệnh ngộ Mã Lương túng du vô yếm": ăn chơi không biết chán. Câu 37 nói nặng hơn cho Lương hãm địa (Mệnh ở Tị, Hợi, Thân) gặp Mã: "Thiên Lương, Thiên Mã hãm, phiêu đãng vô nghi" — gặp thêm Không Kiếp, Hỏa Linh tất thành phiêu bạt

Toàn Thư câu 37, 107

Phụ Mẫu hội Thiên Lương

"mẹ cha đồng hưởng thọ trường an vui" — câu phú Toàn Thư và Áo Bí cùng chép. Tân Biên (mục 5.2.12 tr.99) không nói gộp mà chia theo vị trí: đơn thủ tại Tỵ Ngọ (theo bản in), cùng Thiên Đồng, cùng Thiên Cơ, hay cùng Thái Dương tại Mão thì cha mẹ giàu sang, sống lâu; đơn thủ Sửu Mùi hai thân bình thường, trong nhà thiếu hòa khí; đơn thủ Tỵ Hợi thì hai thân bất hòa, sớm lìa bỏ một trong hai thân; cùng Thái Dương tại Dậu thì sớm khắc một trong hai thân

Toàn Thư tr.87 · Áo Bí tr.287 · Tân Biên mục 5.2.12