Tử Vi Ca

Một trong 14 chính tinh

Sao Thiên Đồng

Thiên Đồng là một trong 14 chính tinh của lá số tử vi, hành Thủy. Sao phúc — ôn hòa, dễ mến, biết hưởng, gặp nạn thường có lối ra.

Sao Thiên Đồng là sao gì, hành gì

Sách xếp Thiên Đồng là Nam Đẩu tinh, Dương Thủy, gọi là Phúc tinh. Chủ phúc thọ. (Tân Biên mục 3.3, tr.25–26)

Thiên Đồng nằm trong bộ: Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương

Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa
Canh cải, thất thường, trung hậu, từ thiện. Chủ sự may mắn, vui vẻ.
Hãm địa
Canh cải, thất thường, nhân hậu. Chủ tai họa, thị phi, kiện cáo.

Thiên Đồng khi kém thế

ưa an nhàn mà đời bắt bươn chải, đầu đời vất vả, càng về sau càng êm; cần rèn tính bền chí

Đây là chỗ nhiều người đọc tử vi bỏ qua: cùng một sao, đứng đúng đất thì phát huy hết sức, đứng sai đất lại lộ mặt trái. Không có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối.

Thiên Đồng thủ Mệnh

người nở nang phúc hậu — khoan hòa dễ mến, hưởng phúc, chỉ thiếu chút quyết đoán

Thiên Đồng miếu, vượng, đắc, hãm ở đâu

Sách chia độ sáng của mỗi sao ở từng cung địa chi thành năm bậc: miếu là sáng nhất, rồi vượng, đắc, bình hòa, và hãm là tối nhất. Đọc lá số mà chỉ nhìn tên sao, bỏ qua độ sáng, là mới đọc được một nửa.

Độ sáng của Thiên Đồng theo 12 cung địa chi
miếuDần · Thân
vượngTý
đắcMão · Tỵ · Hợi
hãmSửu · Thìn · Ngọ · Mùi · Dậu · Tuất

Thiên Đồng đóng ở từng cung nói lên điều gì

Mười hai cung là mười hai mặt của một đời người — bản thân, anh em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, bệnh tật, đi xa, bạn bè, công danh, nhà cửa, phúc đức, cha mẹ. Cùng một sao vào mỗi cung lại nói một chuyện khác hẳn.

Thiên Đồng ở cung Mệnh

cốt cách, tính tình và vận chung một đời

sáng Phúc tinh thủ Mệnh — sách nói Đồng đóng cung nào giáng phúc cho cung ấy; hội cát tinh là "thọ nguyên thời", phúc thọ song toàn. Chỗ hở nằm ở ý chí: "Thiên Đồng nhập Mệnh, hoán cải vô thường" — hay đổi chí hướng, đổi việc, đổi cả chỗ ở (tr.47-48)

hãm Phúc tinh hãm địa — nhân hậu mà nông nổi, chóng chán; sách chỉ nghề rất gọn: Đồng hãm thủ Mệnh thì nên đi buôn. Giữ đôi mắt và bộ tiêu hóa (tr.48)

Tùy chỗ đứng:

  • Tý — đóng Tý thường có Thái Âm đồng cung — cách "Nguyệt lãng thiên môn" rất rực rỡ; nhưng nếu Hổ, Khốc, Riêu, Tang kéo về thì đẹp mà đường phối ngẫu nhiều nước mắt (tr.49)
  • Sửu — giữ miệng là giữ phúc (tr.48)
  • Dần — phú quý tột bậc, phúc thọ song toàn; đủ Khôi Quyền cùng Linh Kỵ và song Lộc thì doanh thương phát rất nhanh (tr.49)
  • Mão — đảm đang, có đức độ, vượng phu ích tử (tr.48)
  • Tỵ — đóng Tỵ Hợi tuy đắc nhưng thích phiêu lưu, hay đổi chỗ; sách cảnh báo đất này khắc tuổi Đinh và tuổi Canh (tr.47)
  • Ngọ — đóng Ngọ tuy hãm nhưng có óc kinh doanh và ứng hợp tuổi Đinh; có Thái Âm đồng cung thêm Sát tinh thì chuyên kỹ nghệ, buôn bán; thêm Kình Dương mà tuổi Bính hay Mậu thì thành cách chỉ huy nơi biên ải (tr.48-49)
  • Mùi — đóng Sửu Mùi thường có Cự Môn đồng cung — giữ miệng là giữ phúc (tr.48)
  • Thân — đóng Dần Thân thường có Thiên Lương đồng cung — phú quý tột bậc, phúc thọ song toàn (tr.49)
  • Dậu — đóng Dậu — thất thường, chóng chán; sách hướng về đường buôn bán hơn là công danh (tr.48)
  • Tuất — tuổi Đinh đóng đây rất quý hiển, có Hóa Kỵ đồng cung càng phú quý song toàn (tr.49)
  • Hợi — đóng Tỵ Hợi tuy đắc nhưng ưa xê dịch; đất này khắc tuổi Đinh và tuổi Canh (tr.47)

Đọc đủ cung Mệnh →

Thiên Đồng ở cung Phụ Mẫu

cha mẹ, ơn sinh thành và phúc để lại

sáng cha mẹ hiền hòa khá giả, lợi mẹ hơn cha (mục 5.2.3 tr.96)

hãm nhà bất hòa, hai thân xa nhau

Tùy chỗ đứng:

  • Mão — cha mẹ khá giả, lợi cho mẹ nhiều hơn cha
  • Thìn — nhà hay bất hòa, khó chung sống lâu dài
  • Tỵ — hai thân xa cách nhau, mình thường phải xa cha mẹ — nhưng nhà vẫn sung túc
  • Dậu — cha mẹ bình thường, sức khỏe của mẹ suy kém
  • Tuất — nhà hay bất hòa, khó chung sống lâu dài
  • Hợi — hai thân xa cách nhau, mình thường phải xa cha mẹ — nhưng nhà vẫn sung túc

Đọc đủ cung Phụ Mẫu →

Thiên Đồng ở cung Phúc Đức

phúc phần dòng họ, âm đức, thọ yểu

sáng phúc thọ thanh nhàn, càng xa quê càng khá — trong họ thường có người tài lạ, thần đồng (mục 6.1.3 tr.102). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: an ổn sung sướng; cùng Thiên Lương thanh nhàn, cùng Thái Âm hưởng phúc, cùng Cự Môn nhiều buồn hơn vui (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ phúc thọ song toàn, nhàn hưởng; cùng Thiên Lương thì đời thanh nhàn, tài lộc dồi dào và sống lâu, trong họ nhiều người hiển đạt nhờ âm phù; cùng Thái Âm ở Tý được phúc thọ song toàn, con cháu tiếp hưởng quyền lộc nhiều đời, nhưng Đồng Âm ở Ngọ là phúc đã đến ngày kém, phải phân tán tha hương mới lập được nghiệp (Áo Bí tr.295)

hãm buồn nhiều vui ít, phải ly tổ, họ phiêu bạt (mục 6.1.3 tr.102). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: an ổn sung sướng; cùng Thiên Lương thanh nhàn, cùng Thái Âm hưởng phúc, cùng Cự Môn nhiều buồn hơn vui (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ phúc thọ song toàn, nhàn hưởng; cùng Thiên Lương thì đời thanh nhàn, tài lộc dồi dào và sống lâu, trong họ nhiều người hiển đạt nhờ âm phù; cùng Thái Âm ở Tý được phúc thọ song toàn, con cháu tiếp hưởng quyền lộc nhiều đời, nhưng Đồng Âm ở Ngọ là phúc đã đến ngày kém, phải phân tán tha hương mới lập được nghiệp (Áo Bí tr.295)

Tùy chỗ đứng:

  • Mão — Áo Bí: đơn thủ ở Mão thì tính ý hay thay đổi bất thường nhưng nhiều may mắn và sống lâu — cần rời xa tổ nghiệp mới tăng tiến, trong hậu duệ thường có người thông minh tuyệt thế (Áo Bí tr.295)
  • Thìn — Áo Bí: đơn thủ ở Thìn Tuất thì ít gặp may, hay tai bay vạ gió, luôn chiêu thị phi khẩu thiệt và sinh tranh chấp trong tộc thuộc — rời quê hương mới giảm miễn được tai kiếp (Áo Bí tr.296)
  • Dậu — Áo Bí: đơn thủ ở Dậu lại là bất hạnh cho dòng họ — lao tâm khổ tứ bất đắc an thân, khó chuyên chú một việc, muốn đủ ăn phải ly hương và phân tán, toàn tộc không có bậc đại thọ (Áo Bí tr.296)
  • Tuất — Áo Bí: đơn thủ ở Thìn Tuất thì ít gặp may, hay tai bay vạ gió, luôn chiêu thị phi khẩu thiệt và sinh tranh chấp trong tộc thuộc — rời quê hương mới giảm miễn được tai kiếp (Áo Bí tr.296)
  • Hợi — Áo Bí: đơn thủ ở Hợi tuy sung sướng nhưng là thứ phong lưu phóng đãng, không bền và không thọ — phải ly hương, không cố định một nơi mới hưởng được đại thọ (Áo Bí tr.296)

Đọc đủ cung Phúc Đức →

Thiên Đồng ở cung Thiên Di

đường ra ngoài, xuất hành, đối nhân xử thế nơi đất khách

sáng càng xa càng thông, có người giúp — đừng ở lì một chỗ (mục 10.3 tr.133). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại có quý nhân phù trợ; cùng Thiên Lương thì dễ thân với người quý; cùng Cự Môn thì lao tâm khổ trí; đồng cung Thái Âm thì tân khổ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không thì ở ngoài bất toại chí (Toàn Thư tr.77)

hãm nay đây mai đó, thị phi cạnh tranh (mục 10.3 tr.133). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: xuất ngoại có quý nhân phù trợ; cùng Thiên Lương thì dễ thân với người quý; cùng Cự Môn thì lao tâm khổ trí; đồng cung Thái Âm thì tân khổ; bị Dương Đà, Linh Hỏa, Kiếp Không thì ở ngoài bất toại chí (Toàn Thư tr.77)

Đọc đủ cung Thiên Di →

Thiên Đồng ở cung Tật Ách

sức khỏe, bệnh tật và tai ương

sáng phúc che — nhập miếu thì ít tai ương; bụng dạ hơi yếu (mục 11.2.2 tr.138)

hãm bộ tiêu hóa là gốc bệnh — ăn uống điều độ là thuốc; hãm địa Áo Bí ghi bệnh hàn nhiệt hoặc chứng phong tà (Áo Bí tr.257)

Đọc đủ cung Tật Ách →

Thiên Đồng ở cung Tài Bạch

tiền bạc, cách kiếm và cách giữ của

sáng tay trắng làm nên, càng về sau càng có (mục 12.3 tr.144). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: tay trắng gây cơ đồ, phát đạt muộn; cùng Cự Môn thì tài khí lúc tiến lúc thoái; cùng Thiên Lương thì tiền tài đại vượng (Toàn Thư tr.80). Áo Bí thêm: bạch thủ sinh tài nhưng về già mới tốt; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì "cửu lưu nhân sinh" — ba chìm bảy nổi (Áo Bí tr.252)

hãm tụ tán thất thường, dễ hoang phí — cần quỹ có khóa (mục 12.3 tr.144). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: tay trắng gây cơ đồ, phát đạt muộn; cùng Cự Môn thì tài khí lúc tiến lúc thoái; cùng Thiên Lương thì tiền tài đại vượng (Toàn Thư tr.80). Áo Bí thêm: bạch thủ sinh tài nhưng về già mới tốt; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì "cửu lưu nhân sinh" — ba chìm bảy nổi (Áo Bí tr.252)

Tùy chỗ đứng:

  • Tỵ — riêng Tỵ Hợi: lang thang kiếm ăn, hoang phí hao tán khó giữ của — cần người giữ két
  • Hợi — riêng Tỵ Hợi: lang thang kiếm ăn, hoang phí hao tán khó giữ của — cần người giữ két

Đọc đủ cung Tài Bạch →

Thiên Đồng ở cung Điền Trạch

nhà đất, sản nghiệp, chỗ an cư

sáng tay trắng tự lập mà thành có nhà đất (mục 7.3 tr.115). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: trước ít sau nhiều; cùng Thái Âm nhập miếu thì gia cư đồ sộ; cùng Thiên Lương thì bình thường; cùng Cự Môn thì kém; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì chẳng bao giờ có nhà cửa (Toàn Thư tr.89)

hãm điền sản ít, dễ vướng tranh chấp — giấy tờ phải sạch (mục 7.3 tr.115). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: trước ít sau nhiều; cùng Thái Âm nhập miếu thì gia cư đồ sộ; cùng Thiên Lương thì bình thường; cùng Cự Môn thì kém; gặp Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp thì chẳng bao giờ có nhà cửa (Toàn Thư tr.89)

Đọc đủ cung Điền Trạch →

Thiên Đồng ở cung Quan Lộc

công danh, sự nghiệp, đường làm ăn chính

sáng văn võ kiêm toàn nhưng hay thay đổi công việc (mục 8.3 tr.122). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: văn võ đều có khả năng, cốt đừng gặp Dương Đà, Linh Hỏa; cùng Cự Môn thì làm ăn trước nhỏ sau lớn; hội Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt càng hay; cùng Thiên Lương thì quyền quý; cùng Thái Âm ở hãm địa lại rất xấu (Toàn Thư tr.79)

hãm hay đổi việc chóng chán — hợp nghề lưu động, thương mại (mục 8.3 tr.122). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: văn võ đều có khả năng, cốt đừng gặp Dương Đà, Linh Hỏa; cùng Cự Môn thì làm ăn trước nhỏ sau lớn; hội Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt càng hay; cùng Thiên Lương thì quyền quý; cùng Thái Âm ở hãm địa lại rất xấu (Toàn Thư tr.79). Áo Bí thêm: hãm địa thì cùng lắm đến chân thơ lại (Áo Bí tr.272)

Tùy chỗ đứng:

  • Tỵ — riêng Tỵ Hợi: danh như mây nổi, chóng chán — hợp việc lưu động
  • Hợi — riêng Tỵ Hợi: danh như mây nổi, chóng chán — hợp việc lưu động

Đọc đủ cung Quan Lộc →

Thiên Đồng ở cung Nô Bộc

bạn bè, người cộng sự, kẻ dưới quyền

sáng người hiền lành trung thành, bạn tốt. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: người dưới đắc lực; cùng Thái Âm càng hay; bị Dương Đà, Không Kiếp thì bị phản (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: đắc lực và có ích; gặp Dương Đà, Hỏa Linh thì có người phản, kiến Không Kiếp thì rủ nhau bỏ đi một loạt (Áo Bí tr.267)

hãm ít người giúp — quý ai giữ nấy. Toàn Thư chép cung này theo người dưới đắc lực hay bội phản: người dưới đắc lực; cùng Thái Âm càng hay; bị Dương Đà, Không Kiếp thì bị phản (Toàn Thư tr.87). Áo Bí: đắc lực và có ích; gặp Dương Đà, Hỏa Linh thì có người phản, kiến Không Kiếp thì rủ nhau bỏ đi một loạt (Áo Bí tr.267)

Đọc đủ cung Nô Bộc →

Thiên Đồng ở cung Tử Tức

con cái, đường sinh dưỡng

sáng đông con, có quý tử (mục 13.2.3 tr.151)

hãm con thưa, có đứa ham chơi — uốn sớm (mục 13.2.3 tr.151)

Đọc đủ cung Tử Tức →

Thiên Đồng ở cung Phu Thê

vợ chồng, duyên phận lứa đôi

sáng người phối hiền hòa, đẹp duyên (mục 14.3 tr.157). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: nên lấy muộn — chồng đứng tuổi, vợ còn thiếu; bị Tứ Sát xung phá thì khắc hoặc sinh ly; cùng Cự Môn thêm sát tinh thì khắc; cùng Thái Âm thì vợ đẹp; cùng Thiên Lương thì hai vợ chồng đều đẹp tốt (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: lập gia đình muộn thì vợ chồng bách niên giai lão; hãm địa thì xung khắc, thêm Dương Đà, Hỏa Linh là không hòa thuận, phải phân ly (Áo Bí tr.245)

hãm dễ gặp dễ xa — chậm lại thì bền (mục 14.3 tr.157). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: nên lấy muộn — chồng đứng tuổi, vợ còn thiếu; bị Tứ Sát xung phá thì khắc hoặc sinh ly; cùng Cự Môn thêm sát tinh thì khắc; cùng Thái Âm thì vợ đẹp; cùng Thiên Lương thì hai vợ chồng đều đẹp tốt (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: lập gia đình muộn thì vợ chồng bách niên giai lão; hãm địa thì xung khắc, thêm Dương Đà, Hỏa Linh là không hòa thuận, phải phân ly (Áo Bí tr.245)

Tùy chỗ đứng:

  • Mão — chậm cưới thì mọi sự dễ dàng và sống đến bạc đầu, người phối đẹp và hiền
  • Thìn — hay cãi lộn, không tử biệt cũng sinh ly — nhường lời là giữ nhà
  • Tỵ — dễ gặp nhau lại dễ xa nhau
  • Dậu — nhà hay bất hòa, thường phải xa cách nhau
  • Tuất — hay cãi lộn, không tử biệt cũng sinh ly — nhường lời là giữ nhà

Đọc đủ cung Phu Thê →

Thiên Đồng ở cung Huynh Đệ

anh chị em, người ngang vai phải lứa

sáng anh em đông, thuận hòa (mục 15.2.3 tr.165). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì anh em phải phân cư mới tránh được bất hòa lục đục (Áo Bí tr.239)

hãm có người ham chơi phiêu bạt (mục 15.2.3 tr.165). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì anh em phải phân cư mới tránh được bất hòa lục đục (Áo Bí tr.239)

Đọc đủ cung Huynh Đệ →

Thiên Đồng vào đại hạn, tiểu hạn

Khi đại hạn mười năm hay tiểu hạn một năm đi tới cung có Thiên Đồng, lời luận đổi theo độ sáng của sao. Hai cuốn chép riêng, nên ghi cả hai.

Theo Tân Biên

Sáng sủa: mọi sự hành thông, danh tài hưng vượng.

Mờ ám: mọi sự "trước hành thông, sau bế tắc", hao tán tiền tài, hay mắc kiện tụng.

  • gặp Hóa Kỵ — sách ghi gọn một chữ: đau bụng

Tân Biên mục 3.2.3 tr.191

Theo Toàn Thư

Sáng sủa: hỉ khí đầy cửa, mọi sự hanh thông, tài lộc phát đạt — nên gây dựng một việc gì mới, gia đạo hạnh phúc.

Mờ ám: rất sợ ác sát xung, làm việc gì cũng hỏng, mất chức vỡ nợ.

Toàn Thư tr.98

Các cách cục có Thiên Đồng

Cách cục là những thế đứng đặc biệt mà sách cổ đặt tên riêng. 2 mục dưới đây đều có Thiên Đồng tham gia.

Mệnh Không Thân Kiếp

rất khôn ngoan sắc sảo, nhưng "trong đời vui ít, buồn nhiều, mưu sự thì thành bại thất thường: làm việc gì cũng chẳng được lâu bền". Sách thêm: Mệnh vô Chính diệu lại có Song Hao hội hợp thì tuy ít học cũng lập được công danh, sự nghiệp khá hiển hách; Mệnh hay Thân có Thiên Đồng, Thiên Lương hay Phá Quân tọa thủ thì "thật không sống lâu được"

mục 4.1.3 tr.41

Phụ Mẫu hội Thiên Lương

"mẹ cha đồng hưởng thọ trường an vui" — câu phú Toàn Thư và Áo Bí cùng chép. Tân Biên (mục 5.2.12 tr.99) không nói gộp mà chia theo vị trí: đơn thủ tại Tỵ Ngọ (theo bản in), cùng Thiên Đồng, cùng Thiên Cơ, hay cùng Thái Dương tại Mão thì cha mẹ giàu sang, sống lâu; đơn thủ Sửu Mùi hai thân bình thường, trong nhà thiếu hòa khí; đơn thủ Tỵ Hợi thì hai thân bất hòa, sớm lìa bỏ một trong hai thân; cùng Thái Dương tại Dậu thì sớm khắc một trong hai thân

Toàn Thư tr.87 · Áo Bí tr.287 · Tân Biên mục 5.2.12