Một trong 14 chính tinh
Sao Tham Lang
Tham Lang là một trong 14 chính tinh của lá số tử vi, hành Thủy. Sao dục vọng — ham làm ham sống, giao thiệp rộng, có số hưởng về giao tế và kinh doanh.
Sao Tham Lang là sao gì, hành gì
Sách xếp Tham Lang là Bắc Đẩu tinh, Âm Thủy, gọi là Hung tinh, Dâm tinh. Chủ họa phúc, uy quyền. (Tân Biên mục 3.9, tr.27–28)
Tham Lang nằm trong bộ: Cách Sát Phá Tham
- Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa
- Đa dục, ưa tửu sắc, chơi bời. Chủ uy quyền, tài lộc.
- Hãm địa
- Dâm, tham, hung bạo, chuyên tác họa, hay nhầm lẫn. Chủ sự xuất thế.
Tham Lang khi kém thế
ham muốn nhiều mà chậm tụ, tuổi trẻ bay nhảy, sau trung niên mới đằm; giữ mình trước rượu chè cờ bạc
Đây là chỗ nhiều người đọc tử vi bỏ qua: cùng một sao, đứng đúng đất thì phát huy hết sức, đứng sai đất lại lộ mặt trái. Không có sao nào tốt tuyệt đối hay xấu tuyệt đối.
Tham Lang thủ Mệnh
người đậm chắc — ham làm ham sống, giao thiệp rộng, giỏi tổ chức kinh doanh; đứng miếu đất Tứ Mộ là số phát muộn, ngoài 30 mới vào đà
Tham Lang miếu, vượng, đắc, hãm ở đâu
Sách chia độ sáng của mỗi sao ở từng cung địa chi thành năm bậc: miếu là sáng nhất, rồi vượng, đắc, bình hòa, và hãm là tối nhất. Đọc lá số mà chỉ nhìn tên sao, bỏ qua độ sáng, là mới đọc được một nửa.
| miếu | Sửu · Mùi |
|---|---|
| vượng | Thìn · Tuất |
| đắc | Dần · Thân |
| hãm | Tý · Mão · Tỵ · Ngọ · Dậu · Hợi |
Tham Lang đóng ở từng cung nói lên điều gì
Mười hai cung là mười hai mặt của một đời người — bản thân, anh em, vợ chồng, con cái, tiền bạc, bệnh tật, đi xa, bạn bè, công danh, nhà cửa, phúc đức, cha mẹ. Cùng một sao vào mỗi cung lại nói một chuyện khác hẳn.
Tham Lang ở cung Mệnh
cốt cách, tính tình và vận chung một đời
sáng sao dục vọng đắc thế — hợp kinh doanh, giao thiệp, tổ chức; sách xếp là số phát muộn, ngoài 30 mới vào đà. Kỵ Kình Đà Không Kiếp; ngược lại Hỏa hay Linh đồng cung lại thành cách hào phú (tr.62, 65)
hãm sao dục vọng kém thế — khởi nhiều mà thiếu bền chí; sách hướng về kỹ nghệ, thủ công, buôn bán nhỏ. Giữ mắt, tiêu hóa, tránh rượu chè cờ bạc và các cuộc chơi lớn (tr.62)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — đóng Tý là "phiếm thủy đào hoa" — sách răn nết ham vui; được Tuần Triệt án ngữ lại đảo thành người đoan chính chừng mực (tr.65-66)
- Sửu — đóng Sửu Mùi là cách tiền bần hậu phú — tay trắng dựng của, ngoài 30 mới phát mà phát bền (tr.62-63)
- Dần — đóng Dần gặp Tràng Sinh cùng cát tinh là cách thọ như Bành Tổ; nhưng gặp Đà La đồng cung lại là "phong lưu thái trọng" — chơi bời đến mang họa (tr.65)
- Mão — đóng Mão Dậu là cách thoát tục — người yếm thế, làm gì cũng dễ hụt; chuyên tâm tu dưỡng một việc mới yên và hưởng thọ (tr.62, 65)
- Thìn — ngoài 30 mới phát; gặp Hỏa hay Linh đồng cung thành cách hào phú (tr.64-65)
- Ngọ — đóng Ngọ — sách răn nết phóng túng; thêm sát tinh cùng Tang Hổ thì phòng tai nạn bất ngờ (tr.62, 65)
- Mùi — đóng Sửu Mùi là cách tiền bần hậu phú — tay trắng dựng của, ngoài 30 mới phát mà phát bền (tr.62-63)
- Thân — đóng Thân gặp Tràng Sinh cùng nhiều cát là cách sống rất lâu (tr.65)
- Dậu — đóng Mão Dậu là cách thoát tục — người yếm thế; chuyên tâm tu dưỡng một việc mới yên và hưởng thọ (tr.62, 65)
- Tuất — đóng Tứ Mộ — "tam thập tổng phát phúc"; gặp Hỏa hay Linh đồng cung thành cách hào phú (tr.64-65)
- Hợi — đóng Hợi là chỗ Tham bị khắc nặng nhất; giáp Tứ Sát thì lận đận, nhưng gặp Hóa Quyền và Đế Vượng lại biến hư thành thực (tr.64-65)
Tham Lang ở cung Phụ Mẫu
cha mẹ, ơn sinh thành và phúc để lại
sáng sách ghi đóng ở đâu cũng sớm khắc hay xa cách một trong hai thân (mục 5.2.9 tr.98)
hãm nhà túng, cha mẹ lục đục xa nhau
Tùy chỗ đứng:
- Dần — hai thân túng thiếu, bất hòa, hay xa cách nhau
- Thìn — cha mẹ giàu có nhưng mình không được thừa hưởng, nhà thiếu hòa khí
- Thân — hai thân túng thiếu, bất hòa, hay xa cách nhau
- Tuất — cha mẹ giàu có nhưng mình không được thừa hưởng, nhà thiếu hòa khí
Tham Lang ở cung Phúc Đức
phúc phần dòng họ, âm đức, thọ yểu
sáng về già hưởng phúc, họ giàu nhưng lập nghiệp xa quê (mục 6.1.9 tr.104). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: lao tâm khổ tứ; cùng Liêm Trinh phận mỏng, cùng Tử Vi thì mãn niên nhàn tản (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ lao tâm phí lực mà bất an; cùng Tử Vi thì giảm thọ giảm phúc, chẳng mấy khi vừa lòng, họ hàng phải ly hương bôn tẩu mới đủ dùng — mà kiếm được nhiều tiền của thì lại yểu vong; cùng Liêm Trinh chủ phúc bạc mệnh yểu, hay mắc tai bay vạ gió; cùng Vũ Khúc thì vượng về hậu vận, càng già càng khá (Áo Bí tr.297)
hãm phúc bạc, họ sa sút, có người lầm đường (mục 6.1.9 tr.104). Toàn Thư soi cung này bằng trục khác — an lạc hay lao tâm: lao tâm khổ tứ; cùng Liêm Trinh phận mỏng, cùng Tử Vi thì mãn niên nhàn tản (Toàn Thư tr.84). Áo Bí chép cung này theo một trục nữa — vị trí đơn thủ và chuyện ly hương: chủ lao tâm phí lực mà bất an; cùng Tử Vi thì giảm thọ giảm phúc, chẳng mấy khi vừa lòng, họ hàng phải ly hương bôn tẩu mới đủ dùng — mà kiếm được nhiều tiền của thì lại yểu vong; cùng Liêm Trinh chủ phúc bạc mệnh yểu, hay mắc tai bay vạ gió; cùng Vũ Khúc thì vượng về hậu vận, càng già càng khá (Áo Bí tr.297)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — Áo Bí: đơn thủ ở Tý Ngọ chủ giảm thọ giảm phúc, phải ly hương mới đủ ăn và an thân, tộc thuộc mỗi ngày một sa sút (Áo Bí tr.297)
- Dần — Áo Bí: đơn thủ ở Dần hay Thân tuy có hưởng phúc nhưng là phúc nhẹ, bù lại được thọ trường (Áo Bí tr.297)
- Thìn — Áo Bí: đơn thủ ở Thìn Tuất phải về hậu vận mới sung sướng, trong họ nhiều người tha phương mà tạo được nghiệp giàu có (Áo Bí tr.297)
- Ngọ — Áo Bí: đơn thủ ở Tý Ngọ chủ giảm thọ giảm phúc, phải ly hương mới đủ ăn và an thân, tộc thuộc mỗi ngày một sa sút (Áo Bí tr.297)
- Thân — Áo Bí: đơn thủ ở Dần hay Thân tuy có hưởng phúc nhưng là phúc nhẹ, bù lại được thọ trường (Áo Bí tr.297)
- Tuất — Áo Bí: đơn thủ ở Thìn Tuất phải về hậu vận mới sung sướng, trong họ nhiều người tha phương mà tạo được nghiệp giàu có (Áo Bí tr.297)
Tham Lang ở cung Thiên Di
đường ra ngoài, xuất hành, đối nhân xử thế nơi đất khách
sáng kiếm tiền dễ nơi xa, trước khó sau dễ (mục 10.9 tr.134). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: độc thủ thì ở ngoài lao bác, nhưng hay gặp dịp hoạnh tài nên mới liều lĩnh; cùng Liêm Trinh thêm Tứ Sát thì ở ngoài tân khổ; cùng Vũ Khúc là tay doanh thương; có Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp, Hao Sát thì thường mắc họa chiến chinh (Toàn Thư tr.77). Áo Bí thêm: độc thủ thì ra ngoài lao lực, nhưng làm ăn ở nơi đô hội lại hoạnh tài; gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp mà lưu niên ngộ Hao Sát thì phòng chuyện binh đao cướp bóc (Áo Bí tr.262)
hãm ra ngoài bất lợi, tiểu nhân quấy — chọn nơi chọn bạn (mục 10.9 tr.134). Toàn Thư soi cung này theo chuyện xuất ngoại: độc thủ thì ở ngoài lao bác, nhưng hay gặp dịp hoạnh tài nên mới liều lĩnh; cùng Liêm Trinh thêm Tứ Sát thì ở ngoài tân khổ; cùng Vũ Khúc là tay doanh thương; có Dương Đà, Linh Hỏa, Không Kiếp, Hao Sát thì thường mắc họa chiến chinh (Toàn Thư tr.77). Áo Bí thêm: độc thủ thì ra ngoài lao lực, nhưng làm ăn ở nơi đô hội lại hoạnh tài; gặp Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp mà lưu niên ngộ Hao Sát thì phòng chuyện binh đao cướp bóc (Áo Bí tr.262)
Tham Lang ở cung Tật Ách
sức khỏe, bệnh tật và tai ương
sáng miếu vượng ít tai nạn; để ý đôi chân (mục 11.2.7 tr.139)
hãm bệnh từ ăn chơi mà ra — điều độ là thuốc; gặp Kình Đà sách ghi bệnh trĩ (Áo Bí tr.257)
Tham Lang ở cung Tài Bạch
tiền bạc, cách kiếm và cách giữ của
sáng hoạnh phát — kiếm nhanh, càng già càng giàu (mục 12.9 tr.146). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: miếu vượng dễ hoạnh phát; cùng Tử Vi thì nên cố thủ, chớ cựa lắm cho sẩy vẩy; gặp Hỏa Tinh thì sau ba mươi tuổi mới hoạnh phát, trước ba mươi còn vất vả (Toàn Thư tr.81)
hãm tiền qua tay vì ham vui — khóa két trước cuộc chơi (mục 12.9 tr.146). Toàn Thư chép cung này theo cách tiền đến: hãm địa thì bần cùng; cùng Tử Vi thì nên cố thủ, chớ cựa lắm cho sẩy vẩy; gặp Hỏa Tinh thì sau ba mươi tuổi mới hoạnh phát, trước ba mươi còn vất vả (Toàn Thư tr.81)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — sách dặn riêng đóng Tý Ngọ: phòng hoang phí chơi bời mà hao tán
- Dần — riêng Dần Thân: tiền vào tay này sang tay kia
- Ngọ — sách dặn riêng đóng Tý Ngọ: phòng hoang phí chơi bời mà hao tán
- Thân — riêng Dần Thân: tiền vào tay này sang tay kia
Tham Lang ở cung Điền Trạch
nhà đất, sản nghiệp, chỗ an cư
sáng đầu phải rời nền cũ, về sau mua tậu khá (mục 7.8 tr.116 — sách in lặp số 7.8 cho cả Thái Âm và Tham Lang). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: hãm thì phá tổ nghiệp, miếu vượng thì về sau mới hay; cùng Liêm Trinh chỉ tầm thường (Toàn Thư tr.89). Áo Bí thêm: miếu vượng thì có tổ nghiệp nhưng không giữ được bền, phải từ trung vận trở đi mới tạo lập nên; hãm địa thì lìa tổ nghiệp và một đời chẳng dựng được điền sản. Riêng gặp Hỏa Linh lại giữ được tổ nghiệp và mở rộng thêm — nhưng sách dặn kèm một câu rất cụ thể: phải đề phòng nạn cháy nhà (Áo Bí tr.278)
hãm nền cũ khó giữ — chậm mà chắc (mục 7.8 tr.116 — sách in lặp số 7.8 cho cả Thái Âm và Tham Lang). Toàn Thư chép cung này theo tổ nghiệp giữ được hay không: hãm thì phá tổ nghiệp, miếu vượng thì về sau mới hay; cùng Liêm Trinh chỉ tầm thường (Toàn Thư tr.89). Áo Bí thêm: miếu vượng thì có tổ nghiệp nhưng không giữ được bền, phải từ trung vận trở đi mới tạo lập nên; hãm địa thì lìa tổ nghiệp và một đời chẳng dựng được điền sản. Riêng gặp Hỏa Linh lại giữ được tổ nghiệp và mở rộng thêm — nhưng sách dặn kèm một câu rất cụ thể: phải đề phòng nạn cháy nhà (Áo Bí tr.278)
Tham Lang ở cung Quan Lộc
công danh, sự nghiệp, đường làm ăn chính
sáng đường kỷ luật và kinh doanh đều toại (mục 8.9 tr.124). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: nhập miếu mà ngộ Hỏa Linh thì ở võ chức nắm đại quyền; cùng Tử Vi thì có thể quyền quý cả về văn lẫn võ (Toàn Thư tr.79)
hãm chức nhỏ thăng giáng — buôn bán lại phát (mục 8.9 tr.124). Toàn Thư soi cung này theo trục văn hay võ: hãm địa thì làm quan tham ô, bị Dương Đà, Không Kiếp thì tầm thường; cùng Tử Vi thì có thể quyền quý cả về văn lẫn võ (Toàn Thư tr.79). Áo Bí thêm: hãm địa thì Áo Bí chép chỉ đến địa vị cố vấn, không nắm thực quyền (Áo Bí tr.273)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — sách răn thẳng: đóng Tý Ngọ dễ thành tham quan — giữ liêm là giữ ghế
- Ngọ — sách răn thẳng: đóng Tý Ngọ dễ thành tham quan — giữ liêm là giữ ghế
Tham Lang ở cung Nô Bộc
bạn bè, người cộng sự, kẻ dưới quyền
sáng người năng nổ nhưng hay vượt mặt — cầm cương chắc. Áo Bí: hãm địa thì không có người giúp việc; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì tuy có nhưng là hạng bỏ thầy (Áo Bí tr.268)
hãm kẻ dưới thưa, bạn tan tác. Áo Bí: hãm địa thì không có người giúp việc; thêm Dương Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp thì tuy có nhưng là hạng bỏ thầy (Áo Bí tr.268)
Tham Lang ở cung Tử Tức
con cái, đường sinh dưỡng
sáng con ít, hiển đạt nhưng khó hợp tính cha mẹ (chương 13 — mục 13.3.9, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang)
hãm con khó dạy — nắn từ nhỏ, đừng nuông (chương 13 — mục 13.3.9, bản đọc được mất khối này nên chưa soi được tận trang)
Tham Lang ở cung Phu Thê
vợ chồng, duyên phận lứa đôi
sáng người phối giỏi giang mà hay ghen — vẫn nên muộn cưới (mục 14.9 tr.159). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: vợ chồng thường không đẹp, có khi ba bốn lần làm chú rể; nhập miếu thì nên lấy muộn; cùng Liêm Trinh thì hình khắc, cùng Dương Đà, Linh Hỏa thì chia lìa; cùng Tử Vi thì nên lấy người hơn tuổi (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: nhập miếu thì chậm lập gia đình mới cát vượng, tảo hôn tất bị hình khắc; gia Dương Đà, Hỏa Linh chủ phân ly (Áo Bí tr.245)
hãm dễ hợp dễ tan — muộn và chọn người chín chắn (mục 14.9 tr.159). Toàn Thư soi cung này theo tuổi tác và sớm muộn: vợ chồng thường không đẹp, có khi ba bốn lần làm chú rể; nhập miếu thì nên lấy muộn; cùng Liêm Trinh thì hình khắc, cùng Dương Đà, Linh Hỏa thì chia lìa; cùng Tử Vi thì nên lấy người hơn tuổi (Toàn Thư tr.82). Áo Bí thêm: nhập miếu thì chậm lập gia đình mới cát vượng, tảo hôn tất bị hình khắc; gia Dương Đà, Hỏa Linh chủ phân ly (Áo Bí tr.245)
Tùy chỗ đứng:
- Tý — như trên, sách còn dặn vợ nên là con gái trưởng
- Dần — sách xếp nặng — dễ gặp người hay ghen, ham chơi; nên thật muộn và kén kỹ
- Thìn — người phối giàu và tài giỏi nhưng hay ghen, hoặc sang mà ham vui — nên muộn để tránh hình khắc
- Ngọ — như trên, sách còn dặn vợ nên là con gái trưởng
- Thân — sách xếp nặng — dễ gặp người hay ghen, ham chơi; nên thật muộn và kén kỹ
- Tuất — người phối giàu và tài giỏi nhưng hay ghen, hoặc sang mà ham vui — nên muộn để tránh hình khắc
Tham Lang ở cung Huynh Đệ
anh chị em, người ngang vai phải lứa
sáng anh em ít (mục 15.2.9 tr.165). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì có anh em nhưng bất hòa; hãm địa thì có anh em khác dòng và vẫn phải phân cư (Áo Bí tr.239)
hãm anh em thưa — có khi thêm anh em khác dòng (mục 15.2.9 tr.165). Áo Bí thêm trục hòa mục và chuyện ở riêng: miếu vượng thì có anh em nhưng bất hòa; hãm địa thì có anh em khác dòng và vẫn phải phân cư (Áo Bí tr.239)
Tham Lang vào đại hạn, tiểu hạn
Khi đại hạn mười năm hay tiểu hạn một năm đi tới cung có Tham Lang, lời luận đổi theo độ sáng của sao. Hai cuốn chép riêng, nên ghi cả hai.
Theo Tân Biên
Sáng sủa: mọi sự hành thông, có công danh, có hoạnh tài.
Mờ ám: hao tán tiền tài, "chơi bời phóng đãng đến nỗi mang tai họa", mọi sự đều bế tắc.
- nhập hạn tại Tứ Mộ lại gặp Hỏa hay Linh — sách nói thẳng "phải quyết đoán là hoạnh phát danh tài", và càng hợp nếu chính tuổi cũng Thìn Tuất Sửu Mùi
- gặp Hồng Đào — "thành gia thất", tức chuyện cưới hỏi
- gặp Không Kiếp — mọi sự bế tắc, hao tổn tiền tài
Tân Biên mục 3.2.9 tr.193
Theo Toàn Thư
Sáng sủa: mưu cầu quan tước dễ dàng, thường phát hoạnh tài, mọi việc suôn lọt.
Mờ ám: rất tai hại — sách khuyên "nên tiết dục để tránh bệnh hoạn, chớ có bài bạc mà mất nghiệp".
Toàn Thư tr.100
Các cách cục có Tham Lang
Cách cục là những thế đứng đặc biệt mà sách cổ đặt tên riêng. 12 mục dưới đây đều có Tham Lang tham gia.
Liêm Tham Tỵ Hợi sách xếp vào loại cần cảnh giác
Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung ở Tỵ Hợi — Tân Biên chép "Tham Lang, Liêm Trinh đồng độ nam lãng đãng, nữ đa dâm": rất mờ ám xấu xa, đàn ông hay chơi bời lang thang nay đây mai đó, đàn bà rất dâm dật; đứng Hợi thì Liêm Tham bị khắc hãm "ví như mây dưng không gặp gió" (mục 4.2.9 tr.64). Toàn Thư chép câu ca: Liêm Tham ở Tỵ Hợi "thì dù có phát đạt đến bao chăng nữa rồi cũng đổ vỡ mà ngồi tù" (Toàn Thư tr.29) — đây là lời sách cổ chép, đọc để biết chỗ phải giữ
mục 4.2.9 tr.64 · Toàn Thư tr.29 và tr.130
Song Hao Mão Dậu
cách chúng thủy triều Đông — Tân Biên: Mệnh an tại Mão, Dậu có Hao tọa thủ "rất rực rỡ tốt đẹp", ví như những dòng nước chảy về phương Đông; câu phú "tối hiểm Hóa Lộc, ái ngộ Cự, Cơ": rất kỵ gặp Lộc và rất cần gặp Cự, Cơ — có Hao, Cự, Cơ đồng cung thì "chắc chắn là được hưởng phú quý đến tột bực, phúc thọ song toàn" (mục 4.2.25 tr.94–95). Toàn Thư giải khác: "dễ kiếm tiền nhưng cũng là người ưa lãng phí, ham bài bạc" (Toàn Thư câu 89). Phái Thiên Lương chép mấy ngoại lệ theo chính tinh đi cùng: Thiên Cơ gặp Hao thì mưu tính thông đạt, Cự Môn rất cần Hao để có chỗ mài mà lộ ngọc, Tham Lang gặp Hao lại là cảnh sung túc của người kín đáo — chỉ Thất Sát, Phá Quân và Tử Phủ gặp Hao mới thật là hao (Nghiệm Lý tr.49)
「Song Hao Mão Dậu, chúng thủy triều Đông」
muôn dòng chảy về Đông — tiền luân chuyển không ngừng, càng xoay càng có
mục 4.2.25 tr.94 · Toàn Thư câu 89
Tham ngộ Không Vong
sao dục vọng kém thế gặp màn án — sách đảo nghĩa: Toàn Thư nói Tham Lang ngộ Không Vong thì "kết quả ngược hẳn rất đoan chính" (Toàn Thư tr.32); Tân Biên chép cho Tham ở Tý: gặp Tuần, Triệt án ngữ thì "lại là người lương thiện, thẳng thắn và đúng mực" (tr.66), và Tham Đào gặp Tuần Triệt thì "lại là người nhân hậu và đoan chính" (tr.65)
Toàn Thư tr.32 · mục 4.2.9 tr.65–66
Hỏa Linh Tham tương phùng
Tham Lang gặp Hỏa Tinh hay Linh Tinh đồng cung thủ Mệnh — Tân Biên đòi Tham miếu hay vượng địa, Toàn Thư câu 29 ghi Mệnh ở tứ mộ. Hai sách chép thành hai câu riêng cho hai sao:
「Tham Lang Hỏa Tinh cư miếu vượng, danh chấn chư bang」
Tham gặp lửa đúng đất — tiếng vang dậy các phương
mục 4.2.9 tr.65 · Toàn Thư câu 29, 30
Liêm Tham Tỵ Hợi ngộ Tuần Triệt
phản vi kỳ cách — Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung ở Tỵ Hợi sách xếp "là cách rất xấu": nam lãng đãng, nữ đa dâm, luôn chiêu lấy công môn, ra vào lao thất;
Áo Bí tr.159 và tr.345
Tử Tham nữ mệnh
nữ mệnh Tử Vi cùng Tham Lang đồng thủ
Áo Bí tr.305
Vũ kỵ Âm Tham xung sách xếp vào loại cần cảnh giác
Vũ Khúc thủ Mệnh ở Tuất Hợi — Toàn Thư câu 66 chép "Vũ Khúc Tuất Hợi thượng, tối phạ Thái Âm phùng Tham Lang": rất kỵ gặp Thái Âm cặp Tham Lang chiếu xung, thiếu niên bất lợi. Tân Biên tr.51 chép riêng cho cung Hợi còn nặng hơn: có cách này tất là suốt đời vất vả, chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng
Toàn Thư câu 66
Vũ Tham cư Tài
Vũ Khúc, Tham Lang cùng đóng cung Tài Bạch, không có sát tinh nào (Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa, Linh) — phú nôm chép "Vũ Tham tài bạch phải tường Không gia ác sát ấy phương hoạnh tài": không gia ác sát thì là cách hoạnh tài
「Tham Vũ đồng hành, tiên bần nhi hậu phú」
Tham đi cùng Vũ — tay trắng trước, giàu có sau
Toàn Thư phú nôm câu 25 (không gia ác sát)
Tham Tý Ngọ đắc án ngữ
Tham Lang thủ Mệnh ở Tý Ngọ vốn là hãm địa, phú nôm răn "Nếu không Tuần Triệt là phường bất nhân"; lá này có Tuần Triệt án ngữ, đúng vế Tân Biên chép "ngộ Tuần, Triệt phải vi đoan chính": lại là người lương thiện, thẳng thắn và đúng mực
Toàn Thư phú nôm câu 35 · mục 4.2.9 tr.66
Tham Tý Ngọ vô án ngữ sách xếp vào loại cần cảnh giác
Tham Lang thủ Mệnh ở Tý Ngọ là hãm địa mà không có Tuần Triệt án ngữ — phú nôm chép "Tý Ngọ Tham đóng hai cung / Nếu không Tuần Triệt là phường bất nhân"; Tân Biên nói Tham hãm địa Tý Ngọ "lại có tính dâm dật, chơi bời hoang đãng". Đây là lời sách cổ chép, đọc để biết chỗ phải giữ
Toàn Thư phú nôm câu 35 · mục 4.2.9 tr.62
Hóa Lộc tàng Mộ trung
Lộc cất trong đất Mộ — Tân Biên chép "Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng Mộ trung tàng": Lộc vốn là sao tốt, nhưng thủ Mệnh ở Tứ Mộ thì kém, vì ở đây "Lộc như bị chôn vùi lấp kín", và sách nói thẳng là "không thể thành đại phú được". Vế gỡ Tân Biên chép ngay sau đó là Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung, lá này không có
mục 4.2.23 tr.91
Tham ngộ Kỵ Riêu sách xếp vào loại cần cảnh giác
Tham Lang gặp Kỵ hay Riêu đồng cung. Tân Biên chép câu này rất nặng và không chừa vế nào theo độ sáng: "Tham, dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa, hoặc gặp Kỵ đồng cung, hoặc gặp Riêu đồng cung, tất hay bị bắt bớ giam cầm, nếu không, thật là khó tránh thoát được tai nạn sông nước". Đây là lời sách cổ chép, đọc để biết chỗ phải giữ: sông nước và chuyện bắt bớ giam cầm
mục 4.2.9 tr.62
Đọc thêm: Tham Lang trong các cách cục giàu — sáu phú cục của Tân Biên và ba sao chủ tiền bạc.
