Tử Vi Ca

Cách cục · nhóm 5/13

Cách cục Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương, Thiên Đồng — 9 cách

Mỗi cách có điều kiện — phép Tử Vi Ca dùng để nhận cách trên lá số — rồi nguyên văn sách trong ngoặc kép, kèm số trang. Chỗ nào phép của Tử Vi Ca khác lời sách thì có dòng lệch sách. Hội về là có mặt ở cung ấy, hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu; sáng là miếu, vượng hoặc đắc địa; kề hai bên là ở hai cung sát cạnh (giáp).

Thạch trung ẩn ngọc

Cự Môn thủ Mệnh tại Tý hoặc Ngọ. Bộ luận tách ba vế: có Hóa Lộc, Tuần Triệt hay đủ Khoa Quyền Lộc thì ngọc đã lộ; có Lộc Tồn đồng cung thì ngọc chìm sâu; còn lại là ngọc còn trong đá.

“Cự Môn Tý, Ngọ, Khoa, Quyền Lộc, thạch trung cẩn ngọc, phúc hưng long” (Tân Biên mục 4.2.10, tr.69)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.10 tr.66, 69

Cự Cơ Mão Dậu

Cự Môn và Thiên Cơ cùng thủ Mệnh tại Mão hoặc Dậu.

“Cự, Cơ, Mão, Dậu, Ất, Tân, Kỵ, Bính chí công khanh” (Tân Biên mục 4.2.10, tr.68)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.10 tr.68 · đọc kỹ ở trang riêng

Cự Nhật Dần Thân

Cự Môn và Thái Dương cùng thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân.

“Cung Mệnh an tại Thân có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung, cũng khá giả, danh tài gồm đủ, nhưng không được toàn mỹ, như trong trường hợp cung Mệnh an tại Dần, có Cự, Nhật tọa thủ đồng cung.” (Tân Biên mục 4.2.10, tr.68)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.10 tr.67–68

Cự Môn ngộ Kỵ

Cự Môn và Hóa Kỵ đồng cung thủ Mệnh.

“Cự, dù Miếu địa, Vượng địa, đắc địa hay hãm địa, gặp Kỵ đồng cung, tất không thể tránh thoát được những tai nạn hoặc về sông nước hoặc về xe cộ.” (Tân Biên mục 4.2.10, tr.67)

“Kỵ gặp Cự hay Tham đồng cung, nên rất dễ mắc tai nạn về sông nước, hay bị bắt bớ giam cầm.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.91)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.10 tr.67 · Tân Biên mục 4.2.23 tr.91

Cự Hỏa Kình Dương

Cự Môn thủ Mệnh, Hỏa Tinh và Kình Dương cùng hội về.

“Cự, Hỏa, Kình Dương chung thân ải tử. (Cự Môn, Hỏa Tinh, Kình Dương chết vì thắt cổ).” (Toàn Thư tr.156)

“Cung Mệnh có Cự tọa thủ, gặp Hỏa, Kình, Đà hội hợp, cùng với nhiều sao xấu xa ác độc, tất thắt cổ hay đâm đầu xuống sông mà chết.” (Tân Biên mục 4.2.10, tr.69)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 59

Thiên Ấm triều cương

Thiên Cơ và Thiên Lương cùng thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất.

“Thiên Ấm, triều cương, nhân từ chi trường Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất, có Cơ (Thiên) Lương (Ấm) tọa thủ đồng cung, nên rất nhân từ và chắc chắn là được hưởng phúc thọ song toàn.” (Tân Biên mục 4.2.6, tr.58)

“Thiện, Ấm triều cương nhân từ chi trưởng.” (Toàn Thư tr.158)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.6 tr.58 · Toàn Thư câu 88

Thiên Lương cư Tỵ Hợi

Thiên Lương thủ Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi.

“sao thiên lương thủ mệnh hoặc thân tại cung Tỵ, Hợi chủ cơ hàn, hoặc phiêu đãng tha lương,đam luyến tửu sắc nay quán này, mai tiệm khác.” (Áo Bí tr.417)

“Hãm địa ngộ Hỏa, Linh thành người dâm dật nghèo hèn khắc hại chồng con.” (Áo Bí tr.317)

Chỗ dẫn trên lá số: Áo Bí tr.417 và tr.317

Mã ngộ Thiên Lương

Thiên Lương thủ Mệnh, có Thiên Mã đồng cung.

“Mệnh ngộ Mã Lương túng du vô yếm. (Mệnh có Thiên Mã Thiên Lương ăn chơi không biết chán).” (Toàn Thư tr.159)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 37, 107

Đồng Lương thương phú

Thiên Đồng hoặc Thiên Lương thủ Mệnh, cả hai sao đều sáng và cùng hội về; lại hội đủ Thiên Khôi, Hóa Quyền, Hóa Kỵ, Linh Tinh, Lộc Tồn, Hóa Lộc.

“Lương Đồng miếu địa ngộ Khôi Quyền, gia hội Kỵ, Linh, song Lộc doanh thương dị phú.” (Toàn Thư tr.162)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 137

Các nhóm cách cục khác