Tử Vi Ca

Cách cục · nhóm 3/13

Cách cục Thái Dương, Thái Âm (Nhật Nguyệt) — 26 cách

Cách của hai vầng sáng dựa nhiều vào độ sáng: cùng một thế đứng mà Nhật, Nguyệt sáng hay hãm là hai cách khác nhau.

Mỗi cách có điều kiện — phép Tử Vi Ca dùng để nhận cách trên lá số — rồi nguyên văn sách trong ngoặc kép, kèm số trang. Chỗ nào phép của Tử Vi Ca khác lời sách thì có dòng lệch sách. Hội về là có mặt ở cung ấy, hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu; sáng là miếu, vượng hoặc đắc địa; kề hai bên là ở hai cung sát cạnh (giáp).

Nhật lệ trung thiên

Thái Dương thủ Mệnh tại Ngọ.

“Thái Dương cư Ngọ, Nhật lệ trung thiên Cung Mệnh an tại Ngọ, có Nhật tọa thủ nên rất sáng sủa tốt đẹp, Nhật ở đây ví như mặt trời rực rỡ trên từng cao.” (Tân Biên mục 4.2.5, tr.54)

“Thái Dương cư Ngọ vi chi Nhật lệ trung thiên hữu chuyên quyền chi vị, địch quốc chi phú.” (Toàn Thư tr.158)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.5 · Toàn Thư câu 90 · Toàn Thư tr.142 (cùng cách, tên khác: Kim sán quang huy)

Nhật xuất phù tang

Thái Dương thủ Mệnh tại Mão.

“Nhật xuất Lôi môn, phú qúy vinh hoa” (Tân Biên mục 4.2.5, tr.53)

“Nhật chiếu lôi môn phú quý vinh hoa. (Thái Dương ở Mão cung, tam phương có Xương Khúc, Khôi Việt quý hiển. Rất hợp cách với người tuổi Canh, Tân, Ất).” (Toàn Thư tr.154)

Lệch sách: Ở chỗ luận thế này, Tân Biên và Toàn Thư gọi là Nhật xuất (Nhật chiếu) lôi môn; tên Nhật xuất phù tang có ở Tân Biên mục 19.2.10 và Toàn Thư tr.142.

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.5 · Toàn Thư câu 39 (Nhật chiếu lôi môn) · đọc kỹ ở trang riêng

Nguyệt lãng thiên môn

Thái Âm thủ Mệnh tại Hợi.

“Nguyệt lãng Thiên môn ư Hợi địa đăng vân chấp chưởng đại quyền” (Tân Biên mục 4.2.8, tr.61)

“Nguyệt lãng thiên môn tấn tước phong hầu. (Hợi cung an Mệnh, Thái Âm tọa thủ, tam phương các tinh củng chiếu, đại phú quý. Tuổi Bính, Đinh quý. Tuổi Nhâm Quý phú).” (Toàn Thư tr.154)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.8 · Toàn Thư câu 40 · đọc kỹ ở trang riêng

Đan Trì Quế Trì

Thái Dương ở Mão, Thìn hoặc Tỵ; Thái Âm ở Dậu, Tuất hoặc Hợi; và Mệnh hoặc Thân an ở một trong sáu cung ấy.

“Sao Thái Dương cư Mão Thìn Tỵ (đan trì) sao Thái Âm cư Dậu Tuất Hợi (quế trì) Thân hoặc Mệnh an được tại một trong sáu cung ấy, và gia hội Xương Khúc Khôi Việt, tất nhiên ‘thiếu niên kim bảng đắc danh đề’.” (Áo Bí tr.432)

Chỗ dẫn trên lá số: Áo Bí tr.432 · Toàn Thư câu 57

Nhật Nguyệt đồng lâm

Mệnh an tại Sửu hoặc Mùi, Thái Dương và Thái Âm đồng cung ở cung xung chiếu (Mùi hoặc Sửu).

“Cung Mệnh hay Quan Lộc an tại Sửu, có Nhật tọa thủ tại Tý và Nguyệt tọa thủ tại Hợi xung chiếu hay an tại Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung tại Sửu xung chiếu.” (Tân Biên mục 19.2.14, tr.173)

“Cung mệnh tại Sửu, Nhật Nguyệt ở Mùi, hoặc Mệnh an Mùi, Nhật Nguyệt tại Sửu, là cách Nhật Nguyệt đồng làm” (Áo Bí tr.421)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.14 tr.173 · Áo Bí tr.421 · đọc kỹ ở trang riêng

Nhật Nguyệt đồng cung thủ Mệnh

Thái Dương và Thái Âm cùng thủ Mệnh (chỉ có ở Sửu hoặc Mùi).

“Cung Mệnh hay cung Thân an tại Sửu, Mùi có Nhật, Nguyệt tọa thủ đồng cung, nếu không có thêm nhiều sao sáng sủa tốt đẹp, xung chiếu, hợp chiếu, tất bị mờ ám xấu xa.” (Tân Biên mục 4.2.5, tr.55)

Lệch sách: Tân Biên luận thế này ở mục 4.2.5 tr.55 mà không đặt tên cách; tên là của Tử Vi Ca.

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.5 tr.55

Nhật Nguyệt tịnh minh

Mệnh hoặc Quan Lộc an tại Sửu hay Mùi, vô chính diệu; Thái Dương và Thái Âm đều sáng, cùng ở tam hợp của cung ấy.

“Cung Mệnh hay Quan Lộc an tại Sửu có Nhật tọa thủ tại Tý và Nguyệt tọa thủ tại Hợi hợp chiếu hay an tại Mùi có Nhật tọa thủ tại Mão và Nguyệt tọa thủ tại Hợi hợp chiếu.” (Tân Biên mục 19.2.15, tr.173)

“Nhật Nguyệt tịnh minh, danh tá cửu trùng ư kim điện, thường là những danh tài phò tá các bậc nguyên thủ quốc gia.” (Áo Bí tr.347)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.15 tr.173 · Áo Bí tr.347 và tr.423 · đọc kỹ ở trang riêng

Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi

Thái Dương và Thái Âm đồng cung, ở bất kỳ cung nào của lá số (hai sao chỉ gặp nhau ở Sửu hoặc Mùi).

“Mấy người bất hiển công danh Chỉ vì Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi.” (Toàn Thư tr.76)

“Những người bất hiển công danh. Chỉ vì Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi.” (Áo Bí tr.348)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư tr.76 · Tân Biên tr.145

Nhật Nguyệt ngộ Thiên Hình

Thái Dương hoặc Thái Âm đồng cung với Thiên Hình, ở cung Mệnh hoặc cung Thân.

“Nhật, dù Miếu địa, Vượng địa, đắc địa hay hãm địa gặp Hình đồng cung, tất mắt có tật, mắt thường bị vật kim khí bén nhọn chạm phải mà có thương tích.” (Tân Biên mục 4.2.5, tr.53)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.5, 4.2.8

Nhật Nguyệt giáp Mệnh

Mệnh ở Sửu có Thái Dương ở Dần, Thái Âm ở Tý; hoặc Mệnh ở Mùi có Thái Dương ở Ngọ, Thái Âm ở Thân.

“Cung Mệnh an tại Sửu, giáp Nhật tại Dần, giáp Nguyệt tại Tý, hay an tại Mùi, giáp Nhật tại Ngọ, giáp Nguyệt tại Thân, nếu không có uy quyền hiển hách, tất là bậc triệu phú như Vương Khải, Thạch Sùng.” (Tân Biên mục 4.2.5, tr.56)

“Nhật Nguyệt giáp mệnh phi phú tắc quý Không Kiếp giáp mệnh phi yểu tắc bần.” (Toàn Thư tr.155)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.5 tr.56 · Toàn Thư câu 46 (phi phú tắc quý) · đọc kỹ ở trang riêng

Nhật Nguyệt chiếu hư không

Mệnh vô chính diệu; Thái Dương và Thái Âm đứng ở hai cung khác nhau trong tam hợp của Mệnh, sao nào cũng sáng.

“Cung Mệnh vô Chính diệu có Nhật, Nguyệt sáng sủa tốt đẹp hợp chiếu, là người thông minh biết suy xét nên học một biết mười.” (Tân Biên mục 4.2.5, tr.54)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.5 tr.54 · đọc kỹ ở trang riêng

Minh châu xuất hải

Mệnh ở Mùi, Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi.

“An mệnh ở Mùi, Nhật tại Mão Nguyệt tại Hợi chiếu gọi là cách minh châu hải, tiền bạc danh phận đều hay.” (Toàn Thư tr.154)

“Như mệnh viên an tại Mùi cung, gặp thái dương tại cung mão, thái âm tại cung hợi triều lai, là hợp cách ‘minh châu xuất hải’ tất được tài quan song mỹ.” (Áo Bí tr.424)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 34 · đọc kỹ ở trang riêng

Thủy trừng quế ngạc

Thái Âm thủ Mệnh tại Tý.

“Thái Âm cư Tí hiệu vi thủy chừng quế ngạc đắc thanh yếu chi chức trung gian chí tài.” (Toàn Thư tr.158)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 91

Nguyệt tàng Dần vị

Thái Âm thủ Mệnh tại Dần.

“Nguyệt tàng Dần vị, tác sự hữu thủy vô chung. (Thái Âm rơi vào cung Dần làm việc gì cũng đầu voi đuôi chuột).” (Toàn Thư tr.156)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 67

Nhật trầm thủy để

Thái Dương thủ Mệnh tại Tý, cung Ngọ (xung chiếu) không có Kình Dương, Đà La.

“(Thái Dương cư mệnh ở cung Tý là cách Nhật trầm thủy để mặt trời còn ở đáy biển đông, nếu được sự xung chiếu của hai sao Kình Đà rất hay ví như đời loạn gặp minh chủ).” (Toàn Thư tr.162)

“Bởi lẽ: khi mặt trời nằm tại đáy nước thì chẳng những chỉ có một bóng mặt trời nằm im lìm ở chốn xâu thẳm mà không thể phát được quang huy rực rỡ như ánh tự nhiên.” (Áo Bí tr.433)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 139 tr.162 · Áo Bí tr.433

Loạn thế phùng quân

Thái Dương thủ Mệnh tại Tý, có Kình Dương hoặc Đà La ở cung Ngọ xung chiếu.

“Nhật tại Tý vi Nhật trầm thủy để, đắc Kình Đà xung chiếu hiệu viết loạn thế phùng quân.” (Toàn Thư tr.162)

“tuy nhiên với những người thuộc hỏa Mệnh được hưởng cách Nhật trầm thùy để, loạn thế phùng quân, nếu có được Kình Dương và Đà La xung chiếu.” (Áo Bí tr.433)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 139 tr.162 · Áo Bí tr.433

Nhật Tý ngộ Hình Sát

Thái Dương thủ Mệnh tại Tý, có Thiên Hình đồng cung.

“Nhật tại Tý cung, hiệu viết Nhật trầm thùy để, loạn thế phùng quân, nhược ngộ Hình Sát tu phòng đao nghiệp.” (Áo Bí tr.433)

Chỗ dẫn trên lá số: Áo Bí tr.433

Nhật Kình cư Ngọ

Thái Dương thủ Mệnh tại Ngọ, có Kình Dương đồng cung.

“Thái Dương Kình ở Ngọ cung Mệnh viên tại đó uy hùng tướng quân” (Toàn Thư tr.163)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư phú nôm câu 16

Kình phùng Nhật Nguyệt

Kình Dương đồng cung với Thái Dương hoặc Thái Âm, ở bất kỳ cung nào.

“Dương nhẫn bất nghi Nhật Nguyệt bệnh tật triền miên.” (Toàn Thư tr.157)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 81

Kình phùng vầng sáng đồng cung

Thái Dương hoặc Thái Âm thủ Mệnh, có Kình Dương đồng cung.

“Kình gặp Nhật hay Nguyệt đồng cung, tất trai khắc vợ, gái sát chổng.” (Tân Biên mục 4.2.19, tr.85)

“Đồng cung với Nhật Nguyệt bị mục tật hay khắc cha khắc mẹ.” (Toàn Thư tr.51)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.19 tr.85 · Toàn Thư tr.51

Vầng sáng hãm ngộ ám

Thái Dương thủ Mệnh tại Hợi có Kình Dương hoặc Hóa Kỵ đồng cung; hoặc Thái Âm hãm địa thủ Mệnh có Thiên Hình hoặc Thiên Riêu đồng cung.

“Thái Dương đóng ở Hợi cung Gặp Kình hay Kỵ yểu vong hoặc mù” (Toàn Thư tr.162)

“Nguyệt hãm gặp Triệt không thành quý Chỉ sợ Hình Diêu bị mục nguyền” (Toàn Thư tr.164)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư phú nôm câu 11, 34

Mây ngũ sắc

Hóa Kỵ thủ Mệnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, đồng cung với Thái Dương hoặc Thái Âm sáng.

“Kỵ đắc địa, gặp Nhật, Nguyệt sáng sủa đồng cung, ví như mây năm sắc vương vấn trên nền trời.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.91)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.23 tr.91

Dương Lương Xương Lộc

Mệnh ở Tý có Thiên Lương, Thái Dương ở Ngọ xung chiếu — hoặc Mệnh ở Ngọ có Thái Dương, Thiên Lương ở Tý xung chiếu; lại có Văn Xương và Lộc Tồn hội về.

“Thiên Lương, Thái Dương, Xương, Lộc hội lộ truyền đệ nhất danh” (Tân Biên mục 4.2.12, tr.72)

“Thiên Lương, Thái Dương, Xương Lộc hội lô truyền đệ nhất danh.” (Toàn Thư tr.37)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.12 tr.72 · đọc kỹ ở trang riêng

Nhật hội Xương ở Quan

Cung Quan Lộc có Thái Dương sáng và Văn Xương.

“Thái Dương hội Văn Xương ư Quan Lộc, hoàng điện triều ban chi quí.” (Toàn Thư tr.159)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 101

Nhật Nguyệt chiếu bích

Thái Dương và Thái Âm đồng cung ở cung Điền Trạch, cung ấy thuộc Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.

“Nhật Nguyệt chiếu bích (Nhật Nguyệt ở điền trạch cung, tại Thìn tuất Sửu Mùi mới thật tốt).” (Toàn Thư tr.142)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư tr.142 · đọc kỹ ở trang riêng

Nguyệt sinh thương hải

Cung Điền Trạch ở Tý có Thái Âm.

“Nguyệt sinh sương hải (Thái âm ở cung Tí, thủ điền trạch)” (Toàn Thư tr.142)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư tr.142 · đọc kỹ ở trang riêng

Các nhóm cách cục khác