Cách cục · nhóm 8/13
Cách cục văn tinh, quý tinh và các phụ tinh — 21 cách
“Giáp” (kề hai bên) là hai sao ở hai cung sát cạnh cung Mệnh, mỗi bên một sao; hai sao dồn về một phía thì không kể là giáp.
Mỗi cách có điều kiện — phép Tử Vi Ca dùng để nhận cách trên lá số — rồi nguyên văn sách trong ngoặc kép, kèm số trang. Chỗ nào phép của Tử Vi Ca khác lời sách thì có dòng lệch sách. Hội về là có mặt ở cung ấy, hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu; sáng là miếu, vượng hoặc đắc địa; kề hai bên là ở hai cung sát cạnh (giáp).
Tả Hữu hội Mệnh
Tả Phù và Hữu Bật cùng hội về Mệnh.
“Tả Phụ, Hữu Bật chung thân phúc hậu Cung Mệnh có Tả, Hữu tọa thủ, gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nên suốt đời được hưởng phúc, gặp nhiều may mắn và sống lâu.” (Tân Biên mục 4.2.18, tr.84)
“Tử Vi, Thiên Phủ toàn y, Phụ, Bật chỉ công Cung Mệnh có Tử hay Phủ tọa thủ, hay có Tử, Phủ tọa thủ đồng cung, lại gặp Phụ, Bật hội hợp nên được hưởng phú qúy trọn đời.” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.43)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.18 tr.84 · Tân Biên mục 4.2.1 tr.43
Tả Hữu giáp Mệnh
Tả Phù và Hữu Bật ở hai cung kề hai bên Mệnh; Mệnh có chính tinh và không sao nào hãm.
“Cung Mệnh có nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, lại giáp Tả, giáp Hữu, nên rất qúy hiển, có danh tiếng lừng lẫy, được nhiều người kính phục.” (Tân Biên mục 4.2.18, tr.84)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.18 tr.84
Mộ phùng Tả Hữu
Mệnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có cả Tả Phù lẫn Hữu Bật đồng cung.
“Mộ phùng Tả Hữu tôn cư bát tòa chi quí.” (Toàn Thư tr.154)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 43
Xương Khúc hội Mệnh
Văn Xương hoặc Văn Khúc tọa thủ Mệnh, sao còn lại hội về.
“Xương, Khúc đắc địa gặp nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp, nhất là Tử, Phủ, Khôi, Việt, Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc nên đi thi đỗ cao, sớm hiển đạt, được hưởng phú qúy, có uy danh lừng lẫy và sống lâu.” (Tân Biên mục 4.2.14, tr.78)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.14 tr.78
Xương Khúc giáp Mệnh
Văn Xương và Văn Khúc ở hai cung kề hai bên Mệnh.
“Xương, Khúc giáp Mệnh tối vi kỳ Cung Mệnh giáp Xương, giáp Khúc, nên rất thông minh và được nhiêu người kính trọng, qúy mến.” (Tân Biên mục 4.2.14, tr.80)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.14 tr.80
Khôi Việt hội Mệnh
Thiên Khôi hoặc Thiên Việt tọa thủ Mệnh, sao còn lại hội về.
“Tọa quí hướng quí - (Khôi Việt chiếu mệnh, hoặc Khôi ở mệnh Việt hướng vào và ngược lại)” (Toàn Thư tr.142)
“Khôi, Việt gặp Tuần, Triệt án ngữ, hay gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Sát tinh, Kỵ, Hình, nên suốt đời chẳng mấy khi được xứng ý toại lòng, công danh trắc trở” (Tân Biên mục 4.2.16, tr.81)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.16 · Toàn Thư tr.142 (Tọa quý hướng quý)
Khôi Việt giáp Mệnh
Thiên Khôi và Thiên Việt ở hai cung kề hai bên Mệnh; Mệnh có chính tinh và không sao nào hãm.
“Khôi tinh giáp Mệnh vi kỳ cách Cung Mệnh sáng sủa tốt đẹp, giáp Khôi, giáp Việt nên rất thông minh, sớm hiển đạt, được nhiều người kính trọng, yêu mến, ra ngoài hay được qúy nhân Phủ trợ.” (Tân Biên mục 4.2.16, tr.82)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.16 tr.82
Giả Nghị niên thiếu đăng khoa
Mệnh có chính tinh, không sao nào hãm và ít nhất một sao sáng; Mệnh không có Hóa Kỵ; đủ bốn sao Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hội về.
“Trong số của Giả Nghị đời Hán, cung Mệnh sáng sủa tốt đẹp, là có Xương, Khúc, Khôi, Việt hội chiếu, vậy cho nên Giả Nghị thông minh, học rộng, đỗ đạt rất sớm.” (Tân Biên mục 4.2.14, tr.80)
“Cung Mệnh có cát tinh tọa thủ, ba cung Thiên ri, Quan lộc, Tài bạch, có Xương Khúc và Hóa khoa triều củng, ông Cổ Nghị được cách này, đã cao chiếm bảng vàng.” (Áo Bí tr.427)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.14 tr.80 · Áo Bí tr.427 · đọc kỹ ở trang riêng
Văn nhân bất nại
Hóa Kỵ tọa thủ Mệnh, và đủ bốn sao Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt hội về.
“Hóa Ky, văn nhân bất nại Cung Mệnh có Kỵ tọa thủ, gặp Xương, Khúc, Khôi, Việt hội hợp là người thông minh, có văn tài, nhưng trắc trở về đường công danh và không thế hiển đạt được.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.93)
“Hóa Kị thi rớt lắm khi Dương gặp Kiếp sát học gì cho hay” (Toàn Thư tr.163)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.23 tr.93 · đọc kỹ ở trang riêng
Tứ Linh hội Mệnh
Long Trì, Phượng Các, Bạch Hổ, Hoa Cái đều hội về Mệnh (hoặc đều hội về Thân).
“Phượng Long Cái Hổ : là tứ linh tức Phượng Các, Long Trì, Hoa Cái, Bạch Hổ. Hội đủ bốn sao này cho Mệnh Thân thì sẽ không còn sợ hung sát tinh nữa.” (Toàn Thư tr.60)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư tr.60
Thai Tọa thủ Mệnh Tứ Mộ
Tam Thai và Bát Tọa cùng thủ Mệnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
“Mộ trung Thai Tọa văn mưu vũ lược kiêm ưu” (Toàn Thư tr.161)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 127
Tam minh Đào Hồng Hỷ
Đào Hoa, Hồng Loan, Thiên Hỷ đều hội về Mệnh.
“Đào, Hồng, Hỷ, kết hợp thành bộ sao Tam Minh, gia tăng sức sáng cho Nhật, Nguyệt.” (Tân Biên mục 3.36, tr.33)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 3.36 tr.33
Hổ ngộ Tấu Thư
Bạch Hổ và Tấu Thư đồng cung, ở bất kỳ cung nào.
“Hổ mà gặp Tấu đồng cung Công danh thi cử nên công dễ dàng” (Toàn Thư tr.162)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư phú nôm câu 3
Thanh Long ngộ Lưu Hà
Thanh Long và Lưu Hà đồng cung, ở bất kỳ cung nào.
“Gặp Lưu đồng cung, Thanh Long ví như rồng xanh vùng vẫy trên sông lớn, rất rực rỡ tốt đẹp. Lợi ích cho việc thi cử, cầu công danh.” (Tân Biên mục 3.66, tr.37)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 3.66 tr.37
Thanh Long ngộ Kỵ tại Tứ Mộ
Thanh Long và Hóa Kỵ đồng cung ở Thìn, Tuất, Sửu hoặc Mùi.
“Tọa thủ tại Tứ Mộ, gặp Kỵ đồng cung, Thanh Long ví như rồng xanh ẩn trong đám mây năm sắc, rất rực rỡ tốt đẹp. Chủ phú qúy, uy quyền, đem lại nhiều sự may mắn đáng mừng.” (Tân Biên mục 3.66, tr.37)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 3.66 tr.37
Khốc Hư Tý Ngọ
Mệnh tại Tý hoặc Ngọ, có Thiên Khốc và Thiên Hư đồng cung.
“Khốc, Hư, Tý, Ngọ, tiền bần hậu phú Cung Mệnh an tại Tý Ngọ có Khốc, Hu tọa thủ đồng cung, nên lúc thiếu thời nghèo túng, từ ngoài 30 tuổi trở đi mới khá giả, về già mới thật giàu có.” (Tân Biên mục 4.2.25, tr.95)
“Khốc Hư Tý Ngọ đồng cung, tiền bần hậu phú” (Toàn Thư tr.159)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.25 tr.95 · Toàn Thư câu 109
Song Hao Mão Dậu
Mệnh tại Mão hoặc Dậu, Đại Hao ở Mệnh và Tiểu Hao ở cung xung chiếu — hoặc ngược lại.
“Song Hao Mão, Dậu, chủng thủy triều Đông, tối hiểm Hóa Lộc, ái ngộ Cự, Cơ.” (Tân Biên mục 4.2.25, tr.94)
“Song Hao cư Mão Dậu chúng thủy triều đông. (Đại tiểu hao ở Mão và Dậu là cách nước chảy về biển Đông, dễ kiếm tiền nhưng cũng là người ưa lãng phí, ham bài bạc).” (Toàn Thư tr.158)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.25 tr.94 · Toàn Thư câu 89
Thiên Hình anh hùng
Thiên Hình thủ Mệnh tại Dần, Mão, Thân hoặc Dậu.
“Thiên Hình Dần Thân Mão Dậu anh hùng.” (Toàn Thư tr.153)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 25
Đào ngộ Thiên Không thủ Mệnh
Đào Hoa và Thiên Không cùng tọa thủ Mệnh.
“Cung Mệnh có Không, Đào tọa thủ đồng cung: xảo trá, đa mưu, túc trí.” (Tân Biên mục 3.22, tr.30)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 3.22 tr.30
Hồng ngộ Thiên Không thủ Mệnh
Hồng Loan và Thiên Không cùng tọa thủ Mệnh.
“Cung Mệnh, Không, Hồng, tọa chủ đồng cung: thích ẩn dật, tu hành.” (Tân Biên mục 3.22, tr.30)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 3.22 tr.30
Thai thủ Mệnh
Sao Thai tọa thủ Mệnh.
“Thai lâm Mệnh vị, đa học thiểu thành.” (Toàn Thư tr.161)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 123
Các nhóm cách cục khác
- Bộ chính tinh và thế đứng chung của Mệnh (6)
- Tử Vi, Thiên Phủ (14)
- Thái Dương, Thái Âm (26)
- Liêm Trinh, Tham Lang (15)
- Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương, Thiên Đồng (9)
- Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng (13)
- Tứ Hóa và Lộc Tồn (24)
- Thiên Mã (9)
- Sát tinh: Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp (9)
- Tuần Triệt, Mệnh – Thân, Mệnh vô chính diệu (7)
- Nữ mệnh, nam mệnh theo tuổi (9)
- Cách theo cung: Tài, Điền, Quan, Phu Thê, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Nô Bộc (25)
