Cách cục · nhóm 6/13
Cách cục Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng — 13 cách
Mỗi cách có điều kiện — phép Tử Vi Ca dùng để nhận cách trên lá số — rồi nguyên văn sách trong ngoặc kép, kèm số trang. Chỗ nào phép của Tử Vi Ca khác lời sách thì có dòng lệch sách. Hội về là có mặt ở cung ấy, hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu; sáng là miếu, vượng hoặc đắc địa; kề hai bên là ở hai cung sát cạnh (giáp).
Vũ Khúc Thủ Viên
Vũ Khúc thủ Mệnh tại Mão.
“Vũ thủ Mệnh tại Mão.” (Tân Biên mục 19.2.6, tr.172)
“Khi Mệnh đóng ở cung Mão có Cự Cơ hoặc Vũ Khúc thủ rất hợp cho người tuổi Tân, Ất đàn ông nhiều phúc lộc, đàn bà giàu sang.” (Toàn Thư tr.144)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.6 tr.172 · Toàn Thư tr.144 · đọc kỹ ở trang riêng
Vũ Khúc miếu viên
Vũ Khúc thủ Mệnh tại Thìn, Tuất, Sửu hoặc Mùi.
“Vũ Khúc miếu viên uy danh hách hách.” (Toàn Thư tr.153)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 24
Nhị Khúc vượng cung
Vũ Khúc thủ Mệnh, có Văn Khúc đắc địa đồng cung.
“Nhị Khúc vượng cung, uy danh hách dịch Cung Mệnh, có Khúc đắc địa tọa thủ, gặp Vũ đồng cung, là người có tài kiêm văn võ và có uy quyền hiến hách” (Tân Biên mục 4.2.14, tr.80)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.14 tr.80
Vũ kỵ Âm Tham xung
Vũ Khúc thủ Mệnh tại Tuất hoặc Hợi. Ở thế này Thái Âm và Tham Lang bao giờ cũng đứng liền cặp phía đối diện (Mão – Thìn hoặc Dần – Mão), đúng như câu phú tả.
“Vũ Khúc Tuất Hợi thượng, tối phạ Thái Âm phùng Tham Lang. (Sao Vũ Khúc đóng cung Tuất hay Hợi thủ mệnh rất kị gặp Thái Âm cặp Tham Lang chiếu xung thiếu niên bất lợi).” (Toàn Thư tr.156)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 66
Thất Sát triều đẩu
Thất Sát thủ Mệnh tại Dần hoặc Thân.
“Sát miếu địa, Dần, Thân, dĩ nhiên là qúy hiển, nhưng tuổi Giáp, Canh, Đinh, Kỷ mà cung Mệnh co cách này, thật tài quan song mỹ.” (Tân Biên mục 4.2.13, tr.73)
“Thất Sát triều đẩu, tước lộc vinh xương. (An mệnh ở Dần Thân Tý Ngọ có Thất Sát tọa thủ gọi là Thất Sát triều đẩu cách nhưng phải cần Khôi Việt, Xương Khúc tọa chiếu mới hoàn toàn đẹp).” (Toàn Thư tr.153)
Lệch sách: Toàn Thư gọi cả thế ở Tý, Ngọ là triều đẩu và đòi Khôi Việt, Xương Khúc tọa chiếu; Tử Vi Ca theo Tân Biên, chỉ lấy Dần, Thân.
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.13 · Toàn Thư câu 19 · đọc kỹ ở trang riêng
Thất Sát ngưỡng đẩu
Thất Sát thủ Mệnh tại Tý hoặc Ngọ.
“Cung Mệnh an tại Dần, Thân, Tý, Ngọ có Sát tọa thủ, tất được hưởng phú qúy đến tột bậc. (Thất Sát tọa thủ tại Dần, Thân gọi là Thất Sát triều đẩu tọa thủ tại Tý Ngọ gọi là Thất Sát ngưỡng đẩu” (Tân Biên mục 4.2.13, tr.74)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.13 tr.74
Sát Kình cư Ngọ
Thất Sát thủ Mệnh tại Ngọ, có Kình Dương đồng cung.
“Sát, Kình tại Ngọ, mã đầu đới kiếm tương giao sát diệu ư Bính Mậu nhân, mệnh nan toàn” (Tân Biên mục 4.2.13, tr.75)
“Sát Kình đóng tại Ngọ cung Tai ương thảm khốc nằm trong cuộc đời” (Toàn Thư tr.163)
Lệch sách: Phú Tân Biên còn đòi gặp thêm sát tinh; Tử Vi Ca không xét vế ấy.
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.13 tr.75 · Toàn Thư phú nôm câu 23
Phá Quân Tý Ngọ
Phá Quân thủ Mệnh tại Tý hoặc Ngọ.
“Phá Quân, tý, Ngọ, gia quan tiến lộc Cung Mệnh an tại Tý, Ngọ có Phá tọa thủ, tất được hưởng phú qúy song toàn.” (Tân Biên mục 4.2.14, tr.77)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.14 tr.77
Phá ngộ Khoa Tuần
Phá Quân thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất, có Hóa Khoa và Tuần đồng cung.
“Cung Mệnh an tại Thìn, Tuất có Phá tọa thủ, là người gian ác bất nhân. Đây, nếu Phá gặp Khao đồng cung, gặp tuần án ngữ, lại rất thẳng thắn, lương thiện.” (Tân Biên mục 4.2.14, tr.78)
“Trai bất nhân Phá Quân Thìn Tuất Ngộ khoa tuần phản ác vì lương Tuổi Mậu Quí lắm vàng bạc Hoạnh tài bộc phát giàu sang một đời.” (Toàn Thư tr.41)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.14 tr.77-78 · Toàn Thư tr.41
Xương Khúc ngộ Phá Thìn Tuất
Phá Quân thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất, có Văn Xương hoặc Văn Khúc đồng cung.
“Xương Khúc, Phá Quân phùng hình khắc đa lao bác. (Phá Quân đóng cung Thìn Tuất thủ mệnh gặp Xương Khúc không được toàn mỹ cuộc đời hình khắc lục thân, bôn tẩu vất vả).” (Toàn Thư tr.156)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 65
Thiên Tướng ngộ Tuần Triệt
Thiên Tướng thủ Mệnh, có Tuần hoặc Triệt.
“Tướng dù miếu, vượng, đắc hay hãm địa gặp Tuần, Triệt án ngữ, tất suốt đời khổ cực, công danh trắc trở, tiền tài khó kiếm, thường phải ly tổ bôn ba, lại hay mắc tai họa khủng khiếp” (Tân Biên mục 4.2.11, tr.70)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.11 tr.70
Tướng ngộ Thiên Không Thìn Tuất
Thiên Tướng thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất, có Thiên Không đồng cung, và ít nhất hai cát tinh (Tả Hữu, Khôi Việt, Xương Khúc, Hóa Quyền, Hóa Lộc) hội về.
“Thìn Tuất Tướng gặp Thiên Không Cát tinh hội tụ, uy trong quyền ngoài” (Toàn Thư tr.164)
Lệch sách: Câu phú chỉ nói “cát tinh hội tụ”; Tử Vi Ca lấy mức ít nhất hai cát tinh, cùng mức với cách Kình cư Tứ Mộ.
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư phú nôm câu 42
Phượng Các ngộ Thiên Tướng
Thiên Tướng thủ Mệnh, có Phượng Các đồng cung.
“Phong các Thiên Tướng chính tinh Ơn nhờ lộc nước hiển vinh muôn phần.” (Toàn Thư tr.167)
Lệch sách: Câu phú không nói phải ở cung Mệnh; Tử Vi Ca chỉ xét cung Mệnh.
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư phú nôm câu 90
Các nhóm cách cục khác
- Bộ chính tinh và thế đứng chung của Mệnh (6)
- Tử Vi, Thiên Phủ (14)
- Thái Dương, Thái Âm (26)
- Liêm Trinh, Tham Lang (15)
- Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương, Thiên Đồng (9)
- Tứ Hóa và Lộc Tồn (24)
- Văn tinh, quý tinh và các phụ tinh (21)
- Thiên Mã (9)
- Sát tinh: Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp (9)
- Tuần Triệt, Mệnh – Thân, Mệnh vô chính diệu (7)
- Nữ mệnh, nam mệnh theo tuổi (9)
- Cách theo cung: Tài, Điền, Quan, Phu Thê, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Nô Bộc (25)
