Tử Vi Ca

Cách cục · nhóm 2/13

Cách cục Tử Vi, Thiên Phủ — 14 cách

Mỗi cách có điều kiện — phép Tử Vi Ca dùng để nhận cách trên lá số — rồi nguyên văn sách trong ngoặc kép, kèm số trang. Chỗ nào phép của Tử Vi Ca khác lời sách thì có dòng lệch sách. Hội về là có mặt ở cung ấy, hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu; sáng là miếu, vượng hoặc đắc địa; kề hai bên là ở hai cung sát cạnh (giáp).

Tử Phủ đồng cung

Tử Vi và Thiên Phủ cùng thủ Mệnh (chỉ có ở Dần hoặc Thân). Có Tuần hoặc Triệt ở Mệnh thì đọc theo vế “nội trở”; có sát tinh ngồi ngay Mệnh thì chưa đủ vế “vô Sát” của Tân Biên.

“Tử Phủ đồng cung vô Sát, Giáp nhân hưởng phúc chung thân Cung Mệnh an tại Dần, Thân có Tử Phủ tọa thủ đồng cung nên rất rực rỡ tốt đẹp.” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.43)

“Tử Phủ đồng cung tối vi phúc hậu, thiết hiềm nội trở Triệt Tuần.” (Toàn Thư tr.160)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 tr.42–43 · Toàn Thư câu 111

Cực hướng ly minh

Tử Vi thủ Mệnh tại Ngọ, Kình Dương và Đà La đều không hội về.

“Tử Vi cư Ngọ, vô Hình Kỵ, Giáp, Đinh, Kỷ vị chí công khanh Cung Mệnh an tại Ngọ có Tử tọa thủ lại không bị Kình (Hình), Đà (Kỵ) xâm phạm nên rất rực rỡ tốt đẹp.” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.43)

“Tử Vi cư Ngọ vô sát tấu vị chí công khanh.” (Toàn Thư tr.153)

Lệch sách: Tên này không có trong bốn cuốn; Tân Biên và Toàn Thư chỉ gọi là Tử Vi cư Ngọ, và nói tuổi Giáp, Đinh, Kỷ hợp cách nhất.

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 tr.43 · Toàn Thư câu 20

Đế tọa La Võng

Tử Vi thủ Mệnh tại Thìn hoặc Tuất.

“Đế tọa La, Võng, hoàn vi phi nghĩa chi nhân” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.43)

“Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân bất lương chi bối.” (Toàn Thư tr.160)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 · Toàn Thư câu 115

Tử Phủ Kình Dương đồng cung

Tử Vi hoặc Thiên Phủ thủ Mệnh, có Kình Dương đồng cung.

“Tử Phủ, Kình Dương tại cư thương Cung Mệnh có Tử hay Phủ, tọa thủ, gặp Kình đồng cung là người buôn bán lớn rất giàu.” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.43)

“Kinh thương Tử Phủ ngộ Kình Dương” (Toàn Thư tr.151)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 · Toàn Thư tr.151

Tử Sát đồng lâm Tỵ Hợi

Tử Vi và Thất Sát cùng thủ Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi, Mệnh không có Tuần, Triệt, cũng không có Hóa Quyền.

“Tử Sát đồng lâm Tỵ, Hợi, nhất triều phú qúy song toàn” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.44)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 tr.44

Tử Sát ngộ Không Vong

Tử Vi và Thất Sát cùng thủ Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi, có Tuần hoặc Triệt ở Mệnh.

“Tử Vi, Thất Sát gia Không Vong, hư danh, thụ ấm.” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.44)

“Tử Vi, Thất Sát gia không vong hư danh thụ ẩm.” (Toàn Thư tr.22)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 tr.44

Tử Sát Quyền phản tác trinh tường

Tử Vi và Thất Sát cùng thủ Mệnh tại Tỵ hoặc Hợi, có Hóa Quyền đồng cung, không có Tuần, Triệt.

“Tử Vi, Thất Sát, Hóa Quyền phản tác trinh tường” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.44)

“Tử Vi, Thất Sát, Hoá Quyền phản tác trinh tường. (Tử Vi chế phục Thất Sát lại có Hoá Quyền, công danh hiển đạt).” (Toàn Thư tr.22)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 tr.44

Tử Tham Mão Dậu

Tử Vi và Tham Lang cùng thủ Mệnh tại Mão hoặc Dậu.

“Tử gặp Tham đồng cung, thật chỉ có tu hành mới mong được yên thân.” (Tân Biên mục 4.2.1, tr.43)

“Thân mệnh có Tham Lang, Tử Vi đồng cung hoặc chiếu củng thì nam nữ tà dâm gọi là cách đào hoa phạm chủ, tính tình gian trá” (Toàn Thư tr.159)

“Rời khỏi Ngọ môn Tử vi luôn luôn có người kề cận, một là được hộ giá như Tử Phủ ở Dần Thân, Tử Tướng ở Thìn Tuất, hai là bị uy hiếp như Tử Sát ở Tỵ Hợi, Tử Tham ở Mão Dậu, Tử Phá ở Sửu Mùi.” (Nghiệm Lý tr.72)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.1 tr.43 · Toàn Thư câu 95 · Nghiệm Lý tr.72

Quân thần khánh hội

Tử Vi sáng thủ Mệnh; Tả Phù và Hữu Bật đều ở tam hợp của Mệnh (kể cả đồng cung); lại đủ Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Long Trì, Phượng Các hội về.

“Quân thần khánh hội (Tử Vi, Tả Hữu cùng ở cung mệnh, lại gặp Vũ Khúc, Thiên Tướng chiếu)” (Toàn Thư tr.142)

“Quân thần khánh hội, tài thiện kinh bang.” (Toàn Thư tr.159)

Lệch sách: Toàn Thư chép hai lối khác nhau (tr.142 và câu 96); Tử Vi Ca theo định nghĩa đủ và chặt nhất là Tân Biên mục 19.2.4.

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.4 tr.172 · Toàn Thư tr.142, câu 96

Đế ngộ hung đồ

Tử Vi thủ Mệnh, cả Hóa Quyền lẫn Hóa Lộc hội về, và ít nhất hai trong Kình Dương, Đà La, Hóa Kỵ, Địa Kiếp cũng hội về.

“Đế ngộ hung đồ tuy cát diệc vô đạo. (Tử Vi thủ mệnh, hội Khoa Quyền Lộc và Kình Đà, Kị Kiếp là người tâm thuật bất chính).” (Toàn Thư tr.159)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 100

Kim Dư Phù Giá

Tử Vi sáng tọa thủ Mệnh hoặc Quan Lộc; hai cung kề hai bên có đủ Tả Phù, Hữu Bật, Thiếu Dương, Thiếu Âm, bên nào cũng có ít nhất một sao.

“Tử sáng sủa tốt đẹp tọa thủ tại cung Mệnh, hay Quan Lộc có Tả, Hữu, Thiếu Dương, Thiếu Âm giáp cung, nên ví như xe vàng phò vua” (Tân Biên mục 19.2.1, tr.172)

“Lộc Mã đồng cung Kim dư phù giá, giàu có vàng chôn ngọc cất” (Áo Bí tr.190)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.1 tr.172 · Áo Bí tr.182 và tr.190 · đọc kỹ ở trang riêng

Phụ Bật Củng Chủ

Tử Vi sáng tọa thủ Mệnh hoặc Quan Lộc, Tả Phù và Hữu Bật đều ở tam hợp của cung ấy (kể cả đồng cung).

“Cung Mệnh hay Quan Lộc có Tử sáng sủa tốt đẹp tọa thủ có Phụ - Bật hợp chiếu.” (Tân Biên mục 19.2.3, tr.172)

“Tử Vi, Phụ Bật đồng cung nhất hô bách nặc. (Tử Vi, cùng ở một cung với hai sao Tả Phụ, Hữu Bột gọi một lời trăm người thưa. Nếu Phụ Bật ở tam hợp hay xung chiếu thì không tốt bằng).” (Toàn Thư tr.22)

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.3 tr.172 · Toàn Thư tr.20 và tr.22 · đọc kỹ ở trang riêng

Phủ lâm Tuất

Thiên Phủ thủ Mệnh tại Tuất, có ít nhất một cát tinh (Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc hay Lộc Tồn) hội về.

“Thiên Phủ lâm Tuất hữu tinh phù, yêu kim y tử.” (Toàn Thư tr.153)

Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 23 (hữu tinh phù)

Phủ Tướng triều viên

Thiên Phủ và Thiên Tướng cùng hội về Mệnh; nếu một trong hai sao ngồi ngay cung Mệnh thì sao ấy phải sáng.

“Phủ, Tướng đồng lai hội Mệnh cung toàn gia thực lộc Cung Mệnh có Phủ, tướng hội chiếu, nên rất sung túc, thừa cơm ăn áo mặc.” (Tân Biên mục 4.2.7, tr.60)

“Phủ Tướng triều viên, thiên chung thực lộc. (Mệnh an Dần hay Thân, sao Thiên Phủ, Thiên Tướng ở cung Tài Bạch và Quan Lộc chầu vào là thượng cách, lương cao bổng hậu).” (Toàn Thư tr.31)

Lệch sách: Toàn Thư chỉ nhận khi Mệnh ở Dần hay Thân; Tử Vi Ca theo định nghĩa rộng hơn của Tân Biên mục 19.2.5.

Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.7 tr.60, 19.2.5 tr.172 · Toàn Thư tr.31 · đọc kỹ ở trang riêng

Các nhóm cách cục khác