Cách cục · nhóm 7/13
Cách cục Tứ Hóa và Lộc Tồn — 24 cách
Tứ Hóa an theo hàng Can năm sinh, Lộc Tồn cũng vậy — nên cùng một thế sao, người tuổi này thành cách, người tuổi khác không.
Mỗi cách có điều kiện — phép Tử Vi Ca dùng để nhận cách trên lá số — rồi nguyên văn sách trong ngoặc kép, kèm số trang. Chỗ nào phép của Tử Vi Ca khác lời sách thì có dòng lệch sách. Hội về là có mặt ở cung ấy, hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu; sáng là miếu, vượng hoặc đắc địa; kề hai bên là ở hai cung sát cạnh (giáp).
Khoa Quyền Lộc củng
Đủ Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa hội về Mệnh (khi chưa thành thế Tam Hóa liên châu).
“Khoa, Quyền lộc củng (Chiếu thủ có cả ba Khoa, Quyền, Lộc)” (Toàn Thư tr.142)
“Cùng Mệnh và Khoa Quyền Lộc đứng lối chân vạc trong tam hợp gồm Mệnh Quan và Tài tức là mệnh này tự tạo lấy Tam Hóa cho bản mạng.” (Nghiệm Lý tr.162)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư tr.142 · Nghiệm Lý tr.20, 121 và tr.162 · đọc kỹ ở trang riêng
Tam Hóa liên châu
Một trong ba Hóa Lộc, Quyền, Khoa tọa thủ Mệnh, hai Hóa còn lại ở hai cung kề hai bên.
“Tam hoá liên châu nhập Mệnh nghĩa là một hoá ở Mệnh, 2 hoá giáp hai bên, đắc cách nhất là Quyền ở Mệnh mà cũng chỉ có một tuổi Canh mới có.” (Nghiệm Lý tr.120)
“Còn liên châu nhập Mệnh gồm Phụ có 1 Hóa, Bào có 1 Hóa, ráp vào với Hóa của Mệnh tức là Mệnh đắc hạnh phúc nguyên nhân nhờ gia đình sẵn nếp vinh quang” (Nghiệm Lý tr.162)
Chỗ dẫn trên lá số: Nghiệm Lý tr.120–121 và tr.162
Tam Hóa hận đời
Hóa Kỵ đứng ở một cung, hai cung kề hai bên có Hóa Khoa và Hóa Quyền — ba Hóa nằm liền nhau mà Kỵ ở giữa.
“Còn tuổi âm cũng chỉ có một trường hợp có 3 hoá liền nhau là tuổi Quý được liệt danh là tam hoá hận đời: Hoá Kỵ ở giữa Khoa Quyền giáp 2 bên (xin lập số tuổi Quý Hợi sanh ngày 24 tháng 11 giờ Mão).” (Nghiệm Lý tr.120)
Lệch sách: Nghiệm Lý nêu cách này trong đoạn bàn liên châu nhập Mệnh, và lá thí dụ có Hóa Kỵ ở Mệnh; câu định nghĩa không nói cung, nên Tử Vi Ca nhận ở mọi cung.
Chỗ dẫn trên lá số: Nghiệm Lý tr.120
Khoa Quyền Lộc đối củng
Hóa Khoa tọa thủ Mệnh, Hóa Quyền và Hóa Lộc ở hai cung tam hợp hoặc cung xung chiếu.
“Khoa Quyền Lộc đối củng, dược tam cấp ư vũ môn.” (Toàn Thư tr.154)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 31
Quyền Lộc trùng phùng
Hóa Quyền và Hóa Lộc cùng hội về Mệnh.
“Quyền Lộc trùng phùng Chu Bột vận lai nhập tướng” (Toàn Thư tr.157)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 78
Quyền Lộc Sinh Phùng
Mệnh hoặc Quan Lộc có Hóa Quyền, Hóa Lộc và Tràng Sinh đồng cung.
“Cung Mệnh hay Quan Lộc có Quyền, Lộc, Sinh tọa thủ đồng cung.” (Tân Biên mục 19.2.24, tr.173)
“Quyền Lộc trùng phùng tài quan song mỹ. (Gặp Quyền Lộc tiền nhiều chức lớn).” (Toàn Thư tr.49)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.24 tr.173 · Toàn Thư tr.49 · Tân Biên mục 3.74 tr.38 · đọc kỹ ở trang riêng
Khoa Minh Lộc Ám
Mệnh hoặc Quan Lộc có Hóa Khoa, cung nhị hợp có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn — hoặc ngược lại, Lộc ở cung này, Khoa ở cung nhị hợp.
“Cung Mệnh hay Quan Lộc có Khoa tọa thủ và có Lộc nhị hợp hay có Lộc tọa thủ và có Khoa nhị hợp.” (Tân Biên mục 19.2.25, tr.173)
“Khoa minh lộc ám vị liệt tam đài” (Áo Bí tr.421)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.25 tr.173 · Áo Bí tr.421 · đọc kỹ ở trang riêng
Minh Lộc Ám Lộc
Mệnh có chính tinh không hãm; Lộc Tồn ở Mệnh, Hóa Lộc ở cung nhị hợp — hoặc ngược lại.
“Minh Lộc, Ám Lộc, vị chí công khanh (Cẩm thượng thiêm hoa)” (Tân Biên mục 4.2.17, tr.83)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.17 tr.83 · đọc kỹ ở trang riêng
Song Lộc hội Mệnh
Một Lộc (Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc) tọa thủ Mệnh, Lộc kia hội về.
“Song Lộc trùng phùng, chung thân phú qúy” (Tân Biên mục 4.2.17, tr.83)
“Song lộc trùng phùng chung thân phú quí. (Thân Mệnh có Lộc Tồn thêm Hoá Lộc suốt đời giàu sang).” (Toàn Thư tr.47)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.17 tr.83, 4.2.23
Song Lộc thủ Mệnh
Lộc Tồn và Hóa Lộc cùng tọa thủ Mệnh.
“Song Lộc thủ Mệnh, Lã Hậu chuyên quyền” (Tân Biên mục 4.2.17, tr.83)
Lệch sách: Sách đòi thêm nhiều sao sáng sủa tốt đẹp hội hợp; Tử Vi Ca không xét vế ấy.
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.17 tr.83
Lộc phùng xung Phá
Lộc Tồn thủ Mệnh, Phá Quân ở cung xung chiếu.
“Lộc phùng xung Phá, cát dã thành hung” (Tân Biên mục 4.2.17, tr.83)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.17 tr.83
Lộc Tồn ngộ ám tinh
Lộc Tồn thủ Mệnh, và ít nhất ba trong Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Tiểu Hao, Hóa Kỵ, Thái Tuế hội về.
“Cung Mệnh có Lộc tọa thủ, gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, nhất là Không, Kiếp, Hao, Kỵ, Tuế là người biển lận, ích kỷ và gian quyệt” (Tân Biên mục 4.2.17, tr.82)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.17 tr.82
Kình Đà giáp Lộc
Lộc Tồn thủ Mệnh (Kình Dương, Đà La bao giờ cũng đứng hai bên Lộc Tồn), Mệnh có chính tinh mà có sao hãm địa.
“Cung Mệnh xấu xa, tại giáp Kình, giáp Đà, nên suốt đời cùng khổ, lang thang phiêu bạt, đôi khi phải đi ăn xin.” (Tân Biên mục 4.2.19, tr.86)
“Là vì Lộc tồn không nên cư đơn độc ở trong cung vì luôn luôn Lộc Tồn bao giờ cũng có 2 sao Kinh Đà đi kèm, đó là Lộc Tồn đã bị cách giáp Kinh giáp Đà rồi.” (Áo Bí tr.407)
Lệch sách: Sách không có câu mang đúng tên này; Tân Biên tr.86 nói Mệnh xấu bị Kình Đà giáp, Áo Bí tr.407 nói Lộc Tồn thủ Mệnh thì bao giờ cũng bị Kình Đà giáp — cả hai đều xếp nặng.
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.19 tr.86 · Áo Bí tr.407
Kình Đà giáp Kỵ
Lộc Tồn và Hóa Kỵ cùng tọa thủ Mệnh, Kình Dương và Đà La kề hai bên.
“Dương, Đà giáp Kỵ vi bại cục Cung Mệnh có Kỵ tọa thủ, lại giáp Kình, giáp Đà nên suốt đời nghèo túng, khổ sở, và hay mắc tai họa.” (Tân Biên mục 4.2.19, tr.86)
“Dương Đà hiệp Kỵ vi bại cục. (Mệnh có Hoá Kỵ lại giáp Kình giáp Đà La là số thuộc loại bại cục).” (Toàn Thư tr.50)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.19 tr.86 · Toàn Thư tr.50
Tài Ấn Giáp Lộc
Mệnh hoặc Quan Lộc có Lộc Tồn hay Hóa Lộc tọa thủ, Vũ Khúc và Thiên Tướng ở hai cung kề hai bên.
“Cung Mệnh hay Quan Lộc có Lộc tọa thủ, có Vũ, Tướng giáp cung” (Tân Biên mục 19.2.27, tr.173)
“Tài ấn hiệp lộc (Lộc thủ Mệnh Thiên Lương Thiên Tướng hội hiệp)” (Toàn Thư tr.142)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 19.2.27 tr.173 · Toàn Thư tr.142 · đọc kỹ ở trang riêng
Hóa Kỵ thủ Mệnh
Hóa Kỵ tọa thủ Mệnh. Đứng Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là đắc địa; ngoài bốn cung ấy là hãm.
“Hãm địa thủ Mệnh: nếu cung Mệnh thuộc Dương, năm sinh cũng thuộc Dương, Kỵ không thể tác họa mạnh mẽ được.” (Tân Biên mục 3.26, tr.31)
“Cung Mệnh có Hóa Kỵ tọa thủ, nên thường phải mang tật ở chân tay hay ở mắt, tính nông nổi, hay nhầm lẫn, trước khi làm bất cứ một việc gì, cũng không suy xét cần thận, lại hay mắc thị phi khẩu thiệt.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.91)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 3.26 tr.31, 4.2.23 tr.91
Quyền ngộ Không Vong
Hóa Quyền thủ Mệnh, có Tuần hoặc Triệt.
“Quyền gặp Tuần, Triệt án ngữ, nên công danh trắc trở, trong đời thành ít, bại nhiều.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.90)
“Quyền tinh luận miếu vượng tối pha Không Vong, sát lạc Không Vong cánh vô uy lực” (Toàn Thư tr.139)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.23 tr.90 · Toàn Thư tr.139
Lộc phùng Không Vong
Lộc Tồn gặp Tuần hoặc Triệt, ở cung Mệnh hay bất kỳ cung nào.
“Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại” (Toàn Thư tr.157)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 81
Hóa Lộc tàng Mộ trung
Hóa Lộc thủ Mệnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, không có Tham Lang cùng Vũ Khúc đồng cung.
“Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng Mộ trung tàng” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.91)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.23 tr.91
Lộc tàng Mộ ngộ Tham Vũ
Hóa Lộc thủ Mệnh ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, có Tham Lang và Vũ Khúc đồng cung.
“Trong trường hợp Lộc thủ Mệnh tại Tứ Mộ, nếu gặp Tham, Vũ đồng cung, thật là rực rỡ, vì đủ bộ sao thuận vị.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.91)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.23 tr.91
Tam Kỳ ngộ Kỵ Kình
Đủ Khoa, Quyền, Lộc hội về Mệnh, lại có Hóa Kỵ hoặc Kình Dương hội về.
“Tam Kỳ giao hội, mạc ngộ Kỵ, Kình giáng lộ thanh vân” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.92)
Chỗ dẫn trên lá số: Tân Biên mục 4.2.23 tr.92
Khoa Quyền tụ Ngọ
Mệnh tại Ngọ có Hóa Khoa và Hóa Quyền đồng cung.
“Ngọ thượng Khoa Quyền tương ngộ, biên cương nhậm trọng.” (Toàn Thư tr.161)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 127
Miêu nhi bất tú
Hóa Khoa thủ Mệnh, có Địa Không, Địa Kiếp, Kình Dương hoặc Đà La đồng cung.
“Miêu nhi bất tú, khoa danh hãm ư hung thần.” (Toàn Thư tr.153)
“Cung Mệnh có Khoa tọa thủ gặp nhiều sao mờ ám xấu xa hội hợp, hay bị nhiều Sát tinh xâm phạm, ví như mầm non mới trổ đã khô héo.” (Tân Biên mục 4.2.23, tr.93)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 18
Văn Khúc ngộ Kỵ
Văn Khúc và Hóa Kỵ đồng cung, ở bất kỳ cung nào.
“Văn Khúc kị đồng Hóa Kỵ, hạn ngộ nam phòng yếu tử chi ưu. (Văn Khúc chớ gặp Hóa Kỵ, hạn mà như vậy thì khó lòng phòng chuyện yểu tử).” (Toàn Thư tr.160)
Chỗ dẫn trên lá số: Toàn Thư câu 119
Các nhóm cách cục khác
- Bộ chính tinh và thế đứng chung của Mệnh (6)
- Tử Vi, Thiên Phủ (14)
- Thái Dương, Thái Âm (26)
- Liêm Trinh, Tham Lang (15)
- Cự Môn, Thiên Cơ, Thiên Lương, Thiên Đồng (9)
- Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Tướng (13)
- Văn tinh, quý tinh và các phụ tinh (21)
- Thiên Mã (9)
- Sát tinh: Kình Dương, Hỏa Linh, Không Kiếp (9)
- Tuần Triệt, Mệnh – Thân, Mệnh vô chính diệu (7)
- Nữ mệnh, nam mệnh theo tuổi (9)
- Cách theo cung: Tài, Điền, Quan, Phu Thê, Tử Tức, Tật Ách, Phụ Mẫu, Nô Bộc (25)
